Sống đạo



Thiên Chúa có cần con người làm việc lành để được cứu rỗi hay không?

Hỏi:

Tại sao các anh em Tin Lành nói chỉ cần tin Chúa Kitô là được cứu rỗi trong khi Giáo Hội Công Giáo dạy phải làm thêm việc lành nữa?

Trả lời:

Liên quan đến vấn đề cứu rỗi (salvation) thì giữa Giáo Hội Công Giáo và anh em Tin Lành nói chung (Protestants) đã có sự khác biệt lớn lao, hầu như không thể vượt qua được để có thể đi đến chỗ cùng chia sẻ một niềm tin về ơn cứu độ của Chúa Kitô.

Trước hết, chúng ta cần biết qua về Nhóm Kitô giáo gọi chung là Tin Lành (Protestantism) do những người chủ xướng như Martin Luther ở Đức, năm 1517; John Calvin ở Pháp, Ulrich Zwingli ở Thụy sĩ, và King Henry VIII và Wolsey ở Anh năm 1527. Họ đã tự tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo để tiến hành cài gọi là “Cải cách tôn giáo “Protestant Reformation’ trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sau này lan tràn sang Mỹ và Á Châu. Riêng ở Mỹ, các nhóm Tin Lành chính gồm có Baptists, Methodists, Lutherans, Presbyterians, Protestant Episcopal, United Church of Christ, Episcopalians, Quakers, Disciples of Christ of the Later-day Saints, Jehovah’s Witnesses…

Quan điểm thần học của họ dựa trên 2 tiêu chuẩn hay nguyên tắc căn bản chính sau đây:

1- Vai trò tối cao của Thánh Kinh (Supremacy of the Scriptures) như là nguồn duy nhất (Sola Scriptura) cho Niềm tin và chân lý Kitô Giáo.

2- Sự công chính hóa (Justification) hay ơn cứu độ chỉ nhờ vào đức tin mà thôi.

Tất cả 2 nguyên tắc trên đều không hoàn toàn phù hợp với niềm tin và giáo lý của Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo (Orthodox Churches) vì lý do như sau:

Thứ nhất, Giáo Hội Công Giáo tin Thánh Kinh, Mạc Khải (Revelation), và Thánh Truyền (Sacred Tradition) là 3 nguồn chân lý của đức tin trong khi anh em Tin Lành chỉ tin có Thánh Kinh, không công nhận Mạc Khải và Thánh Truyền, kể cả Quyền Giáo Huấn (Magisterium) của Giáo Hội và vai trò lãnh đạo của Đức Thánh Cha. Họ tin Kinh Thánh nhưng lại hiểu theo cách cắt nghĩa riêng của họ, khác với cách hiểu và cắt nghĩa của Công Giáo.

Cụ thể, liên quan đến đoạn Thánh Kinh Tân Ước trong Tin Mừng Thánh Matthêu sau đây:

“Người (Chúa Giêsu) còn đang nói với đám đông, thì có mẹ và anh em của Người đứng bên ngoài tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa Người rằng: “Thưa Thầy, có Mẹ và anh em Thầy đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy.” (Mt 12: 46-4)

Anh em Tin Lành đã cắt nghĩa cụm từ “anh em“ ở trên theo nghĩa anh em huyết tộc, để từ đó nói rằng Đức Mẹ, sau khi sinh Chúa Giêsu, còn sinh thêm một số con nữa, và từ ngữ “anh em” trong câu trên được họ giải thích là con ruột của Đức Mẹ, em của Chúa Giêsu, cho nên Đức Mẹ không còn đồng trinh trọn đời như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống tin.

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo cắt nghĩa từ ngữ “anh em “nói trên theo nghĩa thiêng liêng, chứ không theo nghĩa đen (literal meaning) của từ ngữ, nên tin vững chắc rằng Đức Maria chỉ sinh có một Người Con duy nhất là Chúa Giêsu nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, vì thế Mẹ vẫn trọn đời đồng trinh như Giáo Hội dạy không sai lầm cho đến nay.

2- Liên quan đến vấn đề công chính hóa và ơn cứu rỗi, anh em Tin Lành cho rằng con người đã mất hết khả năng hành thiện sau khi Adam sa ngã, nên không thể làm được gì có giá trị công chính nữa.Do đó, chỉ còn tin Chúa Kitô là được cứu rỗi mà thôi. Mọi có gắng của cá nhân không thể làm cho con người trở nên công chính (justified) mà phải nhờ vào ơn thánh và tin Chúa Kitô mới được cứu rỗi mà thôi.

Quan điểm trên của anh em Tin Lành chỉ đúng một phần. Đó là cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, là công nghiệp vô giá, vì nếu không có công nhiệp Chúa đã chịu đau khổ, đã bị đóng đanh và chết trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại, thì không ai có thể được cứu rỗi, vì “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ.” (Cv 4:12)

Nghĩa là nếu Chúa Kitô không xuống thế làm Con Người và “hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người“ (Mt 20: 28) thì không ai có thể làm gì để tự cứu mình và cứu người khác được. Đây là điều chúng ta phải tin chắc chắn như vậy.

Tuy nhiên, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa cứu thế Giêsu và ơn của Thiên Chúa là đủ cho ta được cứu rỗi. Nhưng Thiên Chúa vẫn đòi con người phải cộng tác vào ơn cứu độ đó bằng nỗi lực tin yêu Chúa và xa tránh mọi tội lỗi, vì nếu không thì ơn cứu chuộc vô giá kia của Chúa Kitô vẫn sẽ trở nên vô ích như thường..

Thật vậy, bản chất con người, tuy bị băng hoại vì tội Nguyên Tổ (Origional Sin), và trở nên rất yếu đuối trước mọi cám dỗ của ma quỷ và dịp tội của thế gian. Nhưng con người vẫn còn ý muốn tự do (Free will) mà Thiên Chúa tôn trọng cho con người sử dụng để hoặc tự do chọn sống theo đường lối của Chúa hay theo thế gian tội lỗi để quay lưng lại với Thiên Chúa là Cha nhân từ, “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” (1 Tm 2: 4)

Kinh nghiệm bản thân của mỗi người chúng ta đủ chứng minh điều này: Đó là chúng ta không bị bó buộc phải yêu mến Chúa và làm việc lành phúc đức. Chúng ta vẫn cảm thấy mình được tự do sống cho Chúa hay theo thế gian vô thần, vô luân, vô đạo.

Cụ thể, ngày Chúa Nhật, có biết bao người Công Giáo đã tự ý không đi tham dự Thánh Lễ, để ở nhà coi football, hay đi đánh bạc và du hí ở những nơi tội lỗi. Lại nữa, có biết bao người tự do bỏ vợ, bỏ chồng dù đã có con cái và sống chung với nhau nhiều năm. Có vợ chồng còn thuê người khác giết vợ hay chồng của mình để đi xây tổ ấm mới! Và còn biết bao người khác đã và đang làm những sự dữ như giết người, gian manh, lường đảo, dâm ô, bài bạc, trộm cướp, bóc lột …

Nếu sống như vậy, thì họ nghe theo tiếng gọi của Chúa, tiếng lương tâm của họ hay theo thói đời hư đốn đồi trụy ?

Chính vì con người còn có tự do để làm sự lành sự thiên hay sự gian ác, tội lỗi, nên đức tin phải được chứng minh cụ thể bằng hành động như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã dạy như sau:

“Thưa anh em, ai bảo mình có đức tin mà không hành động theo đức tin thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người đó được chăng?” (Gc 2: 14)

Cụ thể, nếu tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô mà lại không thi hành những lời Người dạy bảo về mến Chúa, yêu tha nhân, yêu mến sự thiện hảo, công bình và bác ái, thì đức tin đó là “đức tin chết” theo lời dạy của Thánh Gia-cô-bê (Gc`: 12: 17).

Kinh Thánh cho biết ông Abraham đã thể hiện đức tin và lòng mến yêu Thiên Chúa của ông bằng hành động dám hy sinh con mình là Isaac, như Thiên Chúa đòi hỏi để thử thách ông. Và ông đã chứng minh đức tin và đức mến phi thường của mình khi đang định sát tế con một của ông, nên “Thiên Chúa kể ông là người công chính và ông được gọi là bạn của Thiên Chúa.” (Gc 2: 23)

Như thế đủ cho thấy là đức tin cần được thể hiện cụ thể bằng hành động theo gương ông Abraham và các Thánh Tử Đạo là những người đã dám đỏ máu mình ra để tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô. Nhưng không phải chỉ đổ máu ra mới minh chứng được đức tin. Ngược lại, bằng đời sống bình thường trong gia đình và ngoài xã hội, người có đức tin vẫn có thể biểu lộ đức bằng hành động cụ thể, như làm việc bác ái, nhẫn nhục, chiu đưng và tha thứ cho người khác để minh chứng niềm tin sống động của mình vào Thiên Chúa, là Cha nhân từ, đầy yêu thương và tha thứ.

Trái lại, nếu miệng tuyên xưng đức tin có Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, tin Chúa Kitô là Đấng cứu chuộc nhân loại, nhưng chân lại bước vào những con đường tội lỗi như cờ bạc, gian manh, lừa đảo, dâm ô, trộm cắp, giết người… Thì dẫu có tuyên xưng đức tin hàng trăm ngàn lần ngoài môi miệng cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa những lời sau đây:

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào nước trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi.” (Mt 7: 21)

Làm theo ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là thực thi những Điều Răn của Chúa về yêu thương, công bình, bác ái và thánh thiện. Nghĩa là thể hiện đức tin bằng hành động cụ thể sao cho phù hợp với niềm tin có Chúa là Cha ngự trên trời, là Đấng công minh thưởng phạt con người về những việc mình làm trên trần thế này.

Mặt khác, nếu chỉ cần có đức tin là đủ cho được cứu rỗi như anh em Tin Lành rao giảng, thì tại sao Chúa Giêsu, qua dụ ngôn về Ngày Phán Xét chung, lại nói với những người đứng bên phải Người như sau:

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc: Hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi …Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát các người đã cho uống…” (Mt 25 34-35).

Còn những kẻ đứng bên trái Người, Chúa cũng phán bảo họ rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác quỷ và các sứ thần của nó, vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ta ăn; Ta khát các người đã không chouống,.. Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom…” (cc. 41-42)

Khi phán những lời trên với hai loại người đứng bên phải và bên trái, Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với những người nghèo đói, bệnh tật và tù đày đang có mặt ở khắp nơi trên trần gian này. Nếu chúng ta thực thi đức tin bằng đức ái nồng nàn để ra tay cứu giúp những anh chị em kém may mắn đó, thì chúng ta đã thi hành bác ái với chính Chúa Giêsu đang hiện diện nơi những người xấu số đó. Ngược lại, nếu chúng ta làm ngơ, hay dửng dưng trước những đau khổ và nghèo đói của anh chị em đồng loại, thì chúng ta đã nhắm mặt bịt tai để không nhìn, không nghe tiếng Chúa đang kêu xin chúng ta nơi những người đau khổ, thiếu thốn tù đầy, và bệnh tật ở quanh mình.

Tóm lại, dụ ngôn Ngày Phán Xét chung đã hùng hồn nói lên sự cần thiết phải thể hiện đức tin bằng hành động bác ái tương xứng để đáng được lãnh nhận ợn cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng cũng vì yêu thương con người cách cụ thể mà đã “hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” (Mt 20: 28)

Như vậy, chỉ tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô như anh em Tin Lành chủ trương là chưa đủ, mặc dù là cần thiết. Cần thiết vì nếu không có công nghiệp cực trọng của Chúa Kitô, thì không ai có thể tự sức mình làm được gì để đáng được cứu rỗi.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, nếu chỉ tin Chúa Kitô và nhờ ơn cứu chuộc của Người mà không làm gì hết về phần mình; hay tệ hại hơn nữa, là cứ sống thù nghịch với thập giá của Chúa Kitô bằng đời sống phản chứng, phạm những tội khiến Chúa đã bị đóng đanh để đền thay cho, thì chắc chắn công cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu sẽ trở nên vô ích cho những ai cứ sống đức tin cách mâu thuẫn như vậy.

Tóm lại, ta không thể lợi dụng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô và không làm gì về phần mình để cộng tác với ơn cứu độ của Chúa. Đó là lý do tại sao Giáo Hôi Công Giáo dạy con cái mình phải tin Chúa Kitô và minh chứng niềm tin ấy bằng quyết tâm cải thiện đời sống dựa trên Tin Mừng Cứu Độ và cụ thể hóa niềm tin bằng hành động bác ái theo tinh thần dụ ngôn Ngày Phán Xét chung nói trên.

người được cứu rỗi và nhận biết chân lý.” (1 Tm 2: 4).

Mục đích canh tân này thực cần thiết trong bối cảnh thế giới tục hóa ngày nay, khi con người ở khắp nơi chỉ hăng say đi tìm tiền của, hư danh trần thế, tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc (hedonism) coi nhẹ hay xem thường những đòi hỏi của lương tâm về luân lý, đạo đức, công bằng và bác ái, là những nguyên tắc căn bản và là bộ mặt của một đời sống hướng thượng, trái nghịch với bộ mặt và thực chất của “văn hóa sự chết” đội lốt chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất, và mọi `vui thú vô luân vô đạo đang lộng hành ở khắp nơi, cách riêng ở các quốc gia Âu Mỹ.

Thực trạng trên đang xô đẩy biết bao người vào con đường hư mất đời đời trong đó có những người đã được đức tin qua Phép Rửa, nhưng nay đã rời xa Giáo Hội và chối bỏ đức tin bằng chính đời sống của họ.

Để đối phó với nguy cơ nói trên, và cũng để bảo vệ và củng cố đức tin, Giáo Hội hô hào phải “tái phúc âm hóa” để canh tân và đào sâu thêm đức tin Kitô-Giáo dựa trên chính Chúa Kitô là Tin Mừng đã đến trong trần gian cách nay trên 2000 năm để loan báo “cho mọi loài thụ tạo, và ai tin và chịu phép rửa thì được cứu rỗi, còn ai không tin sẽ bị kết án.” (Mk 16: 16).

Thật vậy, Tin Mừng –hay Phúc Âm- là tất cả những gì đã được viết về Chúa Giêsu-Kitô, từ ngày Người sinh ra cách khó nghèo trong hang bò lừa cho đến ngày Người chết tủi nhục trên thập giá, sau khi phải chịu biết bao đau khổ, nhục nhã, để hiến mạng sống mình “làm giá chuộc cho muôn người.” (Mt 20: 28).

Không những Phúc Âm ghi lại cuộc đời của Chúa mà đặc biệt là truyền lại những lời Người giảng dạy trong suốt ba năm cùng các Môn đệ đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ cho dân Do Thái, nhưng đã bị các giai cấp Trưởng lão, Tư Tế và luật sĩ Do Thái loai bỏ, không đón nhận mà còn lên án tử hình cho Chúa qua khổ nạn vác thập giá như ta đọc thấy trong 4 Tin Mừng.

Phúc Âm của bốn Thánh Sử Matthêu, Mac-cô, Luca và Gioan chỉ ghi chép phần nào những lời Chúa nói và việc Người làm, nhưng không phải tất cả những lời giảng dạy của Chúa, vì theo Thánh Gioan thì “ Nếu viết lại từng điều một thì tôi thiết nghĩ, cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21: 25).

Tuy nhiên, những gì các Thánh Sử đã ghi chép, kế cả các Thư Mục vụ của các Thánh Phaolô, Phê rô, Gia-Cô-Bê, Gioan, và Giuđa bổ túc thêm giáo lý vững chắc cho chân lý của các Tin Mừng của bốn Thánh Sử, đã trở thành toàn bộ Thánh Kinh Tân Ước, được thẩm quyền Giáo Hội coi là Sách Thánh, vì có ơn linh ứng của Chúa Thánh Thần cùng với 46 Sách Cựu Ưỡc hợp thành trọn bộ Thánh Kinh mà Công Đồng đại kết thứ 19 họp tai Trent (1545-1563) đã đóng thư qui.

Thật vậy, các Sách Thánh gồm chung các sách Cựu và Tân Ước viết bằng tiếng Do Thái và Hy lạp đã được Thánh Giê –rô- ni mô (St Jerome, died 420 A.D) dịch ra tiếng Latinh chung trong một Bản gọi là Vulgate tức bản Thánh Kinh Phổ thông được Công Đồng Trentô đóng thư qui là những Sách Thánh có ơn linh hứng đã được công nhận từ Công Đồng Phi Châu (1501-04) cho đến Công Đồng Trento, rồi Công Đồng Vaticanô I (1870) và Vaticanô II (1962-65) cho đến nay. Nghĩa là từ khi bản Phổ thông Vulgate được chính thức đóng thư qui cho đến nay, thì không hề có thêm sách hay điều gì mới được thêm bớt vào nội dung các Sách đã được công nhận là Sách Thánh vì có ơn linh ứng (inspired) của Chúa Thánh Thần.

Do đó, khi kêu gọi “Tân phúc âm hóa” (New Evangelization), một sáng kiến khởi đầu của Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II (nay là Chân phước = Blessed), Giáo Hội không công bố một Tin Mừng mới nào khác với nội dung Tin Mừng đã được công nhân từ Công Đồng Trentô cho đến nay.

Nghĩa là tất cả nội dung Thánh Kinh và Tin Mừng đã được thẩm quyền Giáo Hội công nhận và công bố qua các Công Đồng nói trên vẫn nguyên vẹn là một Tin Mừng cần được canh tân trong chiều kích đào sâu thêm ý nghĩa để giúp sống đức tin Kitô Giáo cách phong phú hơn, và có giá trị thuyết phục hơn trong đời sống cúa mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội.

Đó là tất cả ý nghĩa và mục đích “Tân Phúc Âm hóa = New Evangelization” đang được khuyến khích đẩy mạnh trong toàn Giáo Hội trong Năm Đức Tin này.

Tại sao cần phải đọc lại Lời Chúa trong Thánh Kinh nói chung và trong các Tin Mừng nói riêng?

Để trả lời câu hỏi này, ta cần đọc lại chính lời Chúa Giêsu đã nói với tên quỷ đến cám dỗ Chúa trong rừng vắng, nơi Chúa ăn chay cầu nguyện trước khi ra rao giảng Tin Mừng Cứu Độ:

Khi tên quỷ thách đố Chúa biến đá ra bánh để ăn, Chúa đã trả lời nó như sau: “Đã có lời chép: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.” (Lc 4: 8)

Lời Chúa trên đây được ghi đầy đủ hơn trong Sách Đệ Nhị Luật: “Anh em nhận biết rằng: người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng ĐỨC CHÚA phán ra.” (Đnl 8: 3)

Thánh Phêrô cũng đặc biết nói đến tầm quan trọng phải sống bằng lời Chúa, khi Chúa Giêsu hỏi các Tông Đồ xem họ còn muốn theo Chúa hay muốn bỏ Người ra đi như những người khác. Phêrô đã trả lời Chúa như sau:

“Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6: 68)

Những lời mang lại sư sống đời đời mà Chúa Giêsu đã dạy bảo các Tông Đồ và dân chúng xưa kia là:

1- “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí không và hết sức lực ngươi… Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình ngươi.” (Mc 12: 30-31)

2- “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đên gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:15)

3- “Ta là Ánh Sáng đến thế gian để bất cứ ai tin vào Ta, thì không ở lại trong bóng tối.” (Ga 12: 46)

Hoặc:

4- “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và thênh thang thì đưa đến diệt vong… còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy. (Mt 7: 13-14) Chúa Giêsu chính là Con Đường và là Cửa hẹp mà chúng ta phải đi qua, nếu muốn được vào nơi vĩnh phúc là Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình đức tin trong trần gian này.

Nơi khác, Chúa cũng nói rõ thêm như sau về sự cần thiết phải thực hành lời Chúa cho được vào Nước Trời:

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa, Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi.” (Mt 7: 21)

Như thế, thật vô cùng cần thiết cho mọi tín hữu chúng ta phải đọc lại Lời Chúa trong Thánh Kinh nói chung và nhất là những lời của Chúa Giêsu được ghi lại phần nào trong bốn Tin Mừng (Gospels) mà chúng ta vẫn quen nghe đọc, nhưng chưa gẫm suy cho đủ để lời Chúa thực sự in sâu và biến đổi tâm hồn chúng ta.

Nếu lời Chúa đã đổi mới mọi người chúng ta, thì chắc chắn đã có tình thương trong gia đình giữa cha mẹ, con cái và vợ chồng, khiến cho những thảm kịch vợ chồng bỏ nhau, giết nhau, con cái giết cha mẹ, anh chị em thù nghịch và làm hại nhau đã không sảy ra ở khắp nơi trong thế giới tục hóa ngày nay.

Nếu lời Chúa đã in sâu và biến đổi lòng người thì đã không có biết bao người, kể cả một số không nhỏ các môn đệ Chúa trong Giáo Hội ngày nay đã và đang chạy theo tiền bạc, ham mê của cải và hư danh trần thế đến mức coi nhẹ hay dửng dưng tinh thần khó nghèo của Phúc Âm mà Chúa Giêsu đã nêu gương sáng khi Người chọn sinh ra trong hang bò lừa, và lớn lên, đã sống lang thang như người vô gia cư, đến nỗi “không có chỗ tựa đầu, trong khi con chồn có hang, chim trời có tổ” (Mt 8: 20)

Lại nữa, nếu lời Chúa đã thực sự đi sâu và tâm trí người tín hữu khắp nơi, thì người có niềm tin nơi Chúa không thể buông thả sống theo những trào lưu của “văn hóa sự chết”, để lơ là việc sống Đạo, coi thường việc lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa Giải và nhất là làm nhân chứng cho Chúa Kitô trước bao người chưa biết Chúa và Phúc Âm sự Sống của Người.

Sau hết, riêng đối với các Tông Đồ lớn nhỏ của Chúa trong Giáo Hội, nếu Tin Mừng đã in sâu và đổi mới mọi người, thì không ai có thể coi nhẹ sứ vụ rao giảng, phục vụ và sống nhân chứng cho Chúa là “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20: 28)

Tóm lại, thật vô cùng cần thiết phải được “Tân phúc âm hóa” để Tin Mừng của Chúa đổi mới mỗi người chúng ta thêm hơn nữa hầu biến chúng ta thành những “Kitô thứ hai” (Alter Christus) sống giữa bao người không có đức tin và đang làm những sự gian ác, độc dữ trong thế giới tục hóa ngày nay.

Xin Chúa Thánh Linh giúp đổi mới chúng ta trong cố gắng phúc âm hóa chính mình và phúc âm hóa người khác để chiếu rọi ánh sáng Chúa Kitô vào thế giới quá u tối vì vô thần, vô nhân đạo và vô luân hiện nay.



Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn