Sưu tầm

Bài 01

Của Cải Trong Kinh Thánh

Tiền Bạc, Vấn Ðề Muôn Thuở

1. Quan điểm chung của Thánh Kinh

Ta thường nghe dạy phải dè chừng đối với tiền bạc vì nó bị coi là Ma-mông (Thần Tiền). Khi nói rằng: Anh em không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn Tiền Bạc (Mt 6,24; Lc 16,13), Thánh Kinh thực không có ý khinh miệt tiền bạc và của cải, vì chúng được nhìn như là một công cụ hữu ích trong cuộc sống, cũng như một phương tiện tạo dễ dàng cho việc phân phối, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong xã hội; có điều là phải biết sử dụng nó cho tốt.

Mặt khác, Thánh Kinh cũng nhắc nhở rằng: tiền bạc rất dễ trở thành mối nguy cho bất cứ ai thiếu thận trọng, vì ta rất dễ sa vào cạm bẩy của nó: nó có sức thu hút rất đáng kể, và nhất là theo một lập luận rất hợp lý khiến người ta sẵn sàng làm việc vì nó và cho nó một cách mù quáng như một nô lệ trung thành và tự nguyện trong một tâm trạng bình an. Dường như, không có vấn đề gì phải đặt lại cả, theo một lập luận như sau:

2. Lập luận chung của người kitô hữu

Tôi đầu tư hết thời giờ và tâm trí tôi cho công việc để có thể có thu nhập cho một cuộc sống dễ chịu và xứng với nhân phẩm con người của chính bản thân tôi cũng như của gia đình tôi (điều này hoàn toàn đúng). Mặt khác, tôi cũng lo giữ đạo cho nên: hàng tuần, và thậm chí hàng ngày nữa, tôi đi lễ đều đặn, cố gắng dành chút thời giờ tham gia các hội đoàn và sinh hoạt từ thiện. Tôi không làm hại ai và chẳng gây phiền cho ai (điều này cũng hoàn toàn tốt). Ðời sống đạo như thế có gì sai đâu? Tôi đã giữ trọn đôi đàng: phần đạo và phần đời. Còn tiền bạc ư? Nó cần cho cuộc sống và tôi làm việc để có nó, tôi không bao giờ coi nó ngang hàng với Thiên Chúa hay thần thánh. Tôi nhìn nhận của cải mà tôi có được như là ơn lành Thiên Chúa ban cho, đáp lại một trong những lời cầu xin hàng ngày mà tôi dâng lên Chúa.

3. Ðặt vấn đề

Nhưng liệu lập luận như thế có ổn không? Nó đúng ở điểm nào và đến mức độ nào? Xét về căn bản Ki-tô giáo thì nó có còn đứng vững nữa không? Nếu không, nó sai ở đâu? Sai như thế nào? Và, cuối cùng, ta phải làm gì đây?

Ðể trả lời được những câu hỏi trên, không thể nói vắn tắt trong vài trang giấy, vì điều này rất tế nhị, và thậm chí nó thuộc về phán đoán và trách nhiệm của từng người đối với chính mình và đối với Chúa, không ai có thể làm thay ai được (vì mỗi hoàn cảnh thật rất khác nhau). Ðể có thể giúp quí độc giả suy nghĩ và tự tìm thấy câu trả lời cho chính bản thân (và chỉ cho chính mình mà thôi), người viết xin mời quí độc giả, qua loạt bài này, cùng tìm hiểu về các huấn giáo và các nhân vật cụ thể trong Thánh Kinh, hầu sau cùng chúng ta có thể rút ra được chút gì gọi là kết luận cho chuổi suy tư này.

Nhưng trước hết, người viết trộm nghĩ phải nói ngay một chút về đích điểm mà loạt bài này muốn dẫn tới như là một cách trả lời tức thì cho những ai muốn biết, hầu có thể quyết định theo dõi chúng hay không. Vì không có lý do gì bắt người khác phải theo dõi lâu dài để rồi chỉ nhận được một câu trả lời chẳng thích tí nào.

Vậy đâu là qui chiếu đạo đức cho việc kiếm tiền và sử dụng tiền bạc mà tôi phải dựa vào? Xin nói ngay rằng cái không ổn của lập luận trên kia là ở chỗ không phải là sống trọn hai mặt của cuộc sống: một mặt lo làm ăn sinh sống; mặt khác là lo giữ đạo cho tốt. Vấn đề làcần phải biết sống niềm tin vào Thiên Chúa thế nào "cho phải" trong cuộc sống xã hội hàng ngày: đó là yêu mến Thiên Chúa qua anh chị em mình; vì chính Thiên Chúa đã làm người để thực hiện điều đó cũng như đã dạy chúng ta phải làm như vậy.

Các nhân vật của Thánh Kinh từ Cựu đến Tân Ước sẽ chỉ rõ cho chúng ta điều này dưới nhiều hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau của họ. Các ví dụ đó sẽ như là những qui chiếu hữu ích, giúp chúng ta sống đạo tốt hơn trong khi vẫn chăm chỉ làm lụng sinh sống. Vì quả thật, nếu ta nhận ra rằng mọi sự ta có là do Thiên Chúa ban cho (là Sự chúc lành của Người trên chúng ta) thì ta phải đi xa hơn đến chỗ nhận ra rằng: ta chỉ là những người quản lý để phân phát cho anh em ta đúng thời đúng lúc. Và đi cho đến cùng của suy luận: nếu bên cạnh tôi còn có những người anh chị em bất hạnh, khốn khổ hoặc thiếu thốn, thì tôi không thể không có trách nhiệm về sự kiện đó. Tôi cần và phải làm một cái gì đó. Sống đạo, và nhất là sống đạo Ki-tô quả là không dễ tí nào.

Ðó là trách nhiệm, suy nghĩ, phán đoán và quyết định của mỗi người.



An Thụ




Bài 02

Của Cải Trong Kinh Thánh

Từ Vườn địa đàng đến Tháp Baben

1. Từ Vườn địa đàng

Ngay từ đầu, Thánh Kinh đã nói rõ: trong công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã phủ đầy mặt đất sự phong nhiêu và giàu có hầu nó có thể chuẩn bị phục vụ cho sự xuất hiện của con người. Thật vậy, khi mô tả về Vườn địa đàng, sách Sáng thế đã liệt kê tên bốn con sông Pi-xôn, Ghi-khôn, Ti-grơ và Ê-phơ-rát. Trong số đó, sông Pi-xôn chảy quanh xứ Ha-vi- La nơi có đầy vàng ròng. Rồi chim trời, cá nước, thảo mộc, hoa quả. Con người đã xuất hiện như người chủ sử dụng và người quản lý tất cả sự giàu có đó. Hơn nữa, Thiên Chúa đã chúc lành cho con người và trao cho nó nhiệm vụ thống trị trên muôn loài trên đất. Có điều đáng chú ý là lời chúc lành này không cần bao hàm sự giàu có về của cải vật chất như trong trường hợp của ông Gia-cóp về sau.

Thực vậy, của cải vật chất dư đầy đã có mặt trong cuộc sống nơi Ðịa đàng của hai ông bà nguyên tổ, nó đã được mô tả như là một thành phần của cuộc sống con người, một "cái gì" rất tự nhiên. Vậy, ta có thể nói rằng của cải vật chất "đã từng và vẫn còn là" một trong những điều tốt lành nằm trong chương trình tạo dựng của Thiên Chúa. Và Thiên Chúa không quên nhắc lại yếu tố này khi Người chúc lành cho những người nào trung tín với Người. Ta có thể kể đến các tổ phụ Áp-ra-ham, I-sa-ác và Gia-cóp, vua Ða-vít cũng như Sa-Lô-Mông.. Và ngay cả trước các vị này ta đã có trường hợp của ông Nô-ê.

Ông Nô-ê, một người công chính dưới mắt Thiên Chúa, ông được Thiên Chúa chọn trong chương trình cứu chuộc của Người ngang qua việc cứu thoát ông và gia đình ông khỏi nạn Hồng thủy. Sau đại nạn này, Thiên Chúa đã chúc lành cho Nô-ê và các con ông. Lời chúc lành này cho thấy dường như Thiên Chúa muốn tái lập lại trật tự gần giống như nơi Vườn địa đàng xưa kia: con người được trao lại quyền thống trị trên đất, sở hữu những sản vật của đất và sinh sôi nảy nở tràn mặt đất. Cho đến đây, của cải vật chất vẫn được coi là một yếu tố thành phần của cuộc sống con người. Chưa thấy có một rạn nứt nào trong quan hệ giữa con người và sự giàu có vật chất. Cũng như chưa thấy có vấn đề về sự giàu có làm cớ cho con người phạm tội chống lại Thiên Chúa.

2. Ðến Tháp Babel

Nhưng ngay sau đó. Sự đổ vỡ trong tương quan đã xuất hiện qua câu chuyện tháp Ba-Ben. Ở đây, con người đã cậy vào của cải vật chất mình có để xây ngọn tháp tai tiếng này nhằm chống lại Thiên Chúa. Ðiều trớ trêu là: với chính sự giàu có về của cải vật chất mà Thiên Chúa đã ban tặng đó, con người lại dùng như phương tiện để chống lại Người. Kể từ đó, của cải phải được dè chừng vì nó có khả năng trở thành một cạm bẩy xô đẩy con người đến mức đối nghịch với Thiên Chúa.

3. Hệ Luận

Vậy, của cải vật chất vốn là ơn lành của Thiên Chúa ban tặng, vì Thiên Chúa biết nó gắn chặt và cần thiết cho cuộc sống con người. Tuy nhiên, đã có lúc, và đều này đã không ngừng lặp lại và tiếp diễn trong lịch sử nhân loại, rằng: con người đã sử dụng sự giàu có của mình sai mục đích nhằm chống lại Thiên Chúa, nó đã trở thành một ngẫu tượng. Một hệ quả của điều này là: rồi con người sẽ vì của cải vật chất mà chống đối nhau bằng nhiều cách. Ðiều này sẽ còn là đề tài cho chuổi suy nghĩ của chúng ta sau này: Làm thế nào để của cải vật chất đừng bao giờ trở thành một ông chủ, trái lại nó phải chỉ luôn là một chúc lành của Thiên Chúa và là một công cụ hữu ích để giúp ta xây dựng tình người trong tương quan với tha nhân.



An Thụ




Bài 03

Của Cải Trong Kinh Thánh

Abraham, Người Giàu Ðầu Tiên Trong Thánh Kinh:
Một Người Công Chính

1.Một mẫu mực về đức tin.

Ðây là vị tổ phụ hàng đầu và gương mẫu của niềm tin vào Thiên Chúa. Ông được nhiều tôn giáo lớn: Hồi giáo, Do Thái giáo và Ki-Tô giáo tôn kính. Tên của ông được nhắc đến rất nhiều trong các bộ kinh sách mặc khải nền tảng của các tôn giáo này. Kinh Cô-ran dành trọn một su-rát dài cho ông, su-rát số 14, trong số 114 su-rát. Trong bộ Thánh Kinh, ta thấy tên ông đã xuất hiện từ rất sớm, chỉ sau 11 chương đầu của sách Sáng Thế mà thôi. Câu chuyện kéo khá dài cho tới lúc xuất hiện Gia-cóp ở chương thứ 25. Cái tên đáng kính này còn luôn được nhắc tới trong bộ ba vị đại tổ phụ của Dân: Áp-ra-ham (1), I-sa-ác và Gia-cóp. Và, hơn nữa, ông còn được chính Ðức Giê-su trưng dẫn như là một bảo đảm của phần thưởng mai hậu, khi Ngài mô tả La-da-rô người nghèo được ngồi trong lòng vị tổ phụ này sau khi chết, như là một cách thức hưởng phúc nhàn, so với ông nhà giàu nọ phải chìm trong đau đớn và nghiến răng (xin xem Lc 16,19-30). Còn Thánh Phao- Lô thì lấy ông làm gương mẫu để dạy về đức tin cho các tín hữu Rô-ma (Rm 4).

Ðó là nói về đức tin và nói thuần về tôn giáo đối diện với cuộc sống mai hậu. Nhưng cụ thể hơn, ta cũng có thể học được nơi vị tổ phụ này không ít điều bổ ích liên quan đến cách sống trong lòng xã hội.

2. Một đời sống chân chính

Thật vậy, Áp-ra-ham là người đầu tiên mà ta thấy Thánh Kinh kể như là một người giàu, rất giàu,với những đàn gia súc lớn và đầy vàng bạc (St 13,2). Và nhất là ông biết cách sử dụng tài sản của mình một cách hữu ích. Khi nghe nói về ông như vậy, ta sẽ tự đặt ra hai câu hỏi đáng quan tâm, đó là: ông đã làm giàu bằng cách nào? và ông đã sử dụng của cải của ông ra sao? Ðó là hai câu hỏi sẽ được lặp lại mỗi khi chúng ta tìm hiểu về một nhân vật của Thánh Kinh trong loạt bài này. Vâng, đó cũng chính là những vấn đề mà mỗi chúng ta thường giáp mặt trong cuộc sống hàng ngày đối diện với việc lo làm ăn và chi dụng cho cuộc sống, đồng thời với lo toan cho đời sống niềm tin và cuộc sống mai hậu của mình. Ðiều này không dễ tí nào, vì tự thân nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn khiến khó thực hiện. Và, do đó, nó luôn là một điều nhức nhối, khó chịu cho ta mỗi lần ta chân thành ngồi lại suy nghĩ cách nghiêm túc về vấn đề này. Hy vọng rằng tổ phụ Áp-ra-ham sẽ góp cho ta một chút kinh nghiệm của ông.

a) Làm giàu bằng cách nào?

Thật ra Thánh Kinh chỉ hé cho ta vài nét rất nhỏ về chủ đề này, vì Thánh Kinh không nhằm mục đích trả lời cho những câu hỏi như thế, mà là nhằm mặc khải cho ta về Thiên Chúa và về tình thương của Người, đó là quyển sách dạy về đức tin. Tuy nhiên, như chúng ta đã nói từ đầu loạt bài này, niềm tin phải được sống trong cuộc sống hàng ngày, cho nên ta cũng không sợ sai lầm nếu thử tìm trong đó vài chỉ dẫn liên quan. Ở đây người viết không có chủ trương đọc Thánh Kinh dưới một nhãn quan "duy luân ly", trái lại thì có.

- Không làm giàu cách không chính đáng

Phải nói ngay rằng, Áp-ra-ham không chấp nhận làm giàu bằng cách lợi dụng những cơ hội không chính đáng. Ta có ngay một ví dụ khi đọc thấy rằng ông từ chối chiếm hữu các chiến lợi phẩm thu được sau khi đánh thắng bốn ông vua các xứ Xi-nê-a, En- La-sát, Ê- Lam và Goi-dim vì các vua này đãbắt đi ông Lót, cháu của ông. Sau cuộc chiến thắng, ông chỉ lấy đủ phần cho những người đi theo ông chiến đấu như để trả công lao cho họ; phần ông, ông không lấy gì cả. Ðiều này còn cho thấy rằng ông không hề làm giàu bằng cách khai thác các người làm công cho ông, ông luôn nghĩ đến công cán của họ. Hơn nữa, ông cũng không quên phần của vị Tư tế của Thượng Ðế Tối Cao, Men-ki-xê-đê, là người đã ra đón và chúc lành cho ông sau khi ông chiến thắng trở về (St 14).

- Cũng không tranh lấy phần trội

Ông cũng không làm giàu bằng cách giành lấy phần hơn, trong tương quan với người thân cận. Ta có thể "dẫn" qua câu chuyện ông đề nghị phân chia lãnh địa giữa ông với ông Lót. Sách Sáng Thế chương 13 kể rằng sau một vụ tranh chấp về việc chiếm giữ các đồng cỏ giữa những người chăn thuê cho cả hai ông, Áp-ra-ham đã đề nghị Lót thiết lập một ranh giới giữa đôi bên. Và ông đã nhường cho ông Lót, cháu ông, quyền chọn lựa phần đất vừa ý. Ông Lót đã chọn phần đất thuộc đồng bằng sông Gio-đan phì nhiêu mầu mỡ nơi có hai thị trấn nổi tiếng về giàu sang trụy lạc, Sô-đô-ma và Gô-mô-ra. Ðó là hai thành sẽ bị phá hủy do lửa bởi trời ít lâu sau đó mà sách Sáng thế,sẽ kể (cũng ở chương 19). Phần Áp-ra-ham, còn lại vùng đồi núi Ca-na-an. Vâng, ông sẵn sàng nhường phần hơn cho người khác. Vì, có lẽ đối với niềm tin của ông, sự sung túc của ông là do Thiên Chúa ban cho ông thể theo lời hứa và sự chúc lành mà ông đã lãnh nhận. Ông tin tưởng và trông cậy vào điều đó. Về phần mình, ông chỉ chăm lo làm ăn trong tinh thần thờ phượng Thiên Chúa mà ông tin, và đi theo tiếng gọi và sự dẫn dắt của Người.

b) Dùng của cải như thế nào?

Thực ra, những gì sẽ được chỉ ra ở đây không có gì mới lạ hoặc khác thường so với những chỉ dẫn đạo đức của các nền văn hóa nhân loại, mà theo đó mỗi người đã được dạy hoặc có thể suy luận ra được. Chỉ có điều là, dù ta biết khá rõ về những chỉ dẫn như vậy, nhưng ta lại không thực hiện. Nói cho đúng hơn, ta ít thực hiện, vì lý do là chúng khó thực hiện lắm, hay chính xác hơn nữa, ta không có cơ hội và điều kiện đủ để thực hiện (điều này sẽ được bàn trở lại sau, trong các bài suy tư dựa trên các sách Tin Mừng và sách Công vụ các Tông đồ). Ở đây, người viết chỉ muốn cùng độc giả thấy xem ông Áp-ra-ham đã làm sao. Và điều này có chăng đó chỉ là một chút nhắc nhớ cho chúng ta về những gì đã biết rồi mà thôi.

- Biết và dám chi dụng khi cần

Trong câu chuyện kể về việc ông đòi sang nhượng cho bằng được thửa đất thuộc sở hữu của Ê-phơ-rôn, nơi có hang Mác-pê- La tại Khép-ron, đối diện với Măm-rê. Cuộc đổi chác giữa thửa đất và một số lượng bạc, đã diễn ra sau cái chết của Sa-ra, vợ ông, để có chỗ chôn cất bà (St 23). Việc chôn cất người quá cố là điều quan trọng nhưng, có lẽ ông còn nghĩ xa hơn đến việc tranh chấp có thể xảy ra giữa con cháu ông và dòng dõi của Ê-phơ-rôn về sau, cho nên ông nài nỉ để mua cho được phần đất này. Theo một số nghiên cứu gần đây thì số tiền ông Áp-ra-ham phải trả cho một khoảnh đất nho nhỏ như thế là quá lớn: 400 sicles bạc (bằng khoảng 4,56 kg bạc). Vâng, số tiền lớn đó là để trả cho một sự bảo đảm về sau. Ngày nay, ở đất Ít-ra-en, Khép-ron vẫn còn ở dưới sự bảo đảm này. Ðiều này muốn nói rằng ông Áp-ra-ham không ngại sử dụng của cải của mình cho một mục đích quan trọng hơn, cho dù là phải trả giá đắt. Ðiều này có vẻ trừu tượng quá đối với chúng ta ngày nay (nhưng xin được phép không bàn rộng thêm). Tiếp theo đây là đôi điều cụ thể và thiết thực hơn.

- Ðể tiếp đón và phục vụ tha nhân *Tiếp đón và phục vụ mọi người như nhau.

Ở cuối chương thứ 13, sách Sáng Thế ghi lại một câu như sau: Áp-ra-ham đã định cư dưới những cây sồi ở Măm-rê, tại Khép-ron, và ở đó ông đã xây một bàn thờ kính Gia-vê. Có lẽ, ta không chỉ nên hiểu cách diễn tả bàn thờ kính Gia-vê ở đây thuần theo nghĩ tôn giáo với những ý nghĩa tế tự, dâng cúng hoặc một hình thức lễ vật nào đó. Ta có thể dựa theo chỉ dẫn của một văn bản khác mang tựa đề Giao ước của Áp-ra-ham (Testament dAbraham) (2), để hiểu rộng thêm về câu Thánh Kinh này. Văn bản này nói về sự giàu có của Áp-ra-ham, rằng ông sống trong sự giàu sang với một gia tài đồ sộ và ông rất giàu. Ông đã xây lều bên vệ đường chỗ cây sồi Măm-rê, ở đó ông đã đón tiếp mọi người: giàu lẫn nghèo, vua chúa lẫn thủ lãnh, tật nguyền lẫn thương vong, bạn bè lẫn người xa lạ, hàng xóm lẫn khách lữ hành; với lòng kính trọng, sự thánh thiện, đức công bình và lòng hiếu khách, Áp-ra-ham đã tiếp đón mọi người như nhau. (3).Ta có thể hiểu sự thờ kính Gia-vê trong một nghĩa đón tiếp và phục vụ đồng loại, điều mà Ðức Giê-su sẽ nhấn mạnh sau này trong giáo huấn của Ngài, đặc biệt là trong dụ ngôn về người Sa-ma-ri-a nhân hậu (xin xem Lc 10,29-37). Và, có lẽ, cũng chính vì cung cách sử dụng của cải hết sức độc đáo này, mà Áp-ra-ham đã được Ðức Giê-su dùng để làm phản chiếu với ông nhà giàu không biết quan tâm chút nào tới người anh em nghèo khốn khổ La-da-rô mà chúng ta đã nhắc tới trong Lc 16,19-30 như sau:

Cĩ một ơng nh giu kia, mặc tồn lụa l gấm vĩc, ngy ngy yến tiệc linh đình. Lại cĩ một người ngho khĩ tn l La-da-rơ, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ơng nh giu, thm được những thứ trn bn ăn của ơng ấy rớt xuống m ăn cho no. Lại thm mấy con chĩ cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. Thế rồi người ngho ny chết, v được thin thần đem vo lịng ơng p-ra-ham. Ơng nh giu cũng chết, v người ta đem chơn.

Dưới m phủ, đang khi chịu cực hình, ơng ta ngước mắt ln, thấy tổ phụ p-ra-ham ở tận đng xa, v thấy anh La-da-rơ trong lịng tổ phụ.

Có điều đáng lưu ý là văn bản ngoại qui điển trên không kể rằng Áp-ra-ham đã bố thí hoặc đã ra tay giúp đỡ của cải vật chất cho người nghèo. Văn bản chỉ nói rằng ông đã tiếp đón mọi người như nhau và đã phục vụ họ không phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Ðiều này không dễ.

Theo lối suy nghĩ thường tình: tôi đã đáng được coi là người tốt và tôi cũng có thể tự yên tâm là mình tốt nếu tôi biết và dám rộng tay giúp đỡ người bất hạnh theo khả năng của tôi. Và quả đúng như vậy. Rồi chúng ta cũng sẽ nghĩ rằng như thế đã là đủ và cũng nhiều rồi. Vì, ta có thể dựa theo đòi hỏi của Ðức Giê-su về việc bố thí để biện minh cho suy nhgĩ này - nhưng có lẽ không đơn giản thế, ta sẽ trở lại với bản văn này về sau trong phần bàn về các huấn dụ của Tân Ước, vì Thánh Kinh không dừng lại ở đó.

*. cũng chính là đón tiếp và phục vụ chính Thiên Chúa

Trở lại vấn đề tinh thần đón tiếp và phục vụ của vị tổ phụ, ăn khớp với văn bản ngoại qui điển này, ta có một chút chỉ dẫn Thánh Kinh trong đoạn kể về việc Áp-ra-ham đón tiếp ba vị Khách tại Măm-rê (xin xem St 18,1-15). Trong đoạn văn rất nỗi tiếng và quan trọng này, vì nó được dùng để giải thích về một tiền mặc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, ta có thể đọc thấy cung cách tiếp đón khách của Áp-ra-ham ra sao: chợt nhận ra có ba người khách ngang qua, ông xin họ vui lòng dừng lại tệ xá của ông để nghỉ ngơi đôi chút, mang nước cho họ rửa chân, mời họ ngồi nghỉ dưới tàng cây, hối hả lo chuẩn bị cơm nước,. và dường như cả nhà ông đều góp tay vào phục vụ. Một điều đáng ngạc nhiên và cũng đáng nể thật.

Và theo như xác nhận của văn bản Giao ước của Áp-ra-ham thì ông đã tiếp đón mọi người như nhau . Ðiều đáng lưu ý ở đây là lòng kính trọng con người của ông, ông coi người khác đáng để ông phục vụ. Ông tiếp đón mọi người như tiếp đón chính Thiên Chúa, rồi một ngày nọ, và điều này đã thành sự thật, chính Thiên Chúa Ba Ngôi đã đến viếng thăm ông, như ta thấy qua đoạn Thánh Kinh vừa được nhắc tới. Thiết tưởng đó là điều đáng để học ở đây. Vâng, của cải vật chất chỉ là một phương tiện tốt để giúp ta thực hiện điều quan trọng hơn nhiều, đó là tôn trọng, đón tiếp và phục vụ đồng loại - như xác nhận của dụ ngôn trong Tin mừng theo thánh Lu-ca đoạn 12 các câu 42-43 về điều mà một người đầy tớ trung tín cần làm:"Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát thóc gạo đúng giờ đúng lúc? Khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ta. ". Vâng tổ phụ Áp-ra-ham của chúng ta đã biết làm như vậy.

3. Một bài học về Ðạo đời hoà hợp

Ta có thể nói tóm lại rằng Áp-ra-ham, người giàu đầu tiên trong Thánh Kinh, là một con người công chính, theo nghĩa niềm tin và cả theo nghĩa xã hội thông thường. Ông công chính cả trong cách thức làm giàu và sử dụng tài sản của mình. Ông đã sống trọn niềm tin của ông trong mọi chiều kích của cuộc sống, không chỉ là tốt đạo, đẹp đời mà hơn thế nữa đạo đời hoà hợp. Nơi ông, ta có một qui chiếu để sống đạo vừa khó thực hiện nhưng không phải là không thể.

CHÚ THÍCH

(1) tên các nhân vật và địa danh trong loạt bài này sẽ lấy theo bản dịch của "Nhóm Phụng Vụ các Giờ kinh ".

(2) Thực ra đây là 1 trong những thủ bản thuộc nguồn văn chương "Liên giao ước " do các tác giả Do Thái soạn thảo vào đầu Công nguyên, chúng không nằm trong số các văn bản quy điển Sách Thánh được chính thức chọn sử dụng như là các bản văn Mạc Khải.

(3) Testament d'Abraham I,2 trích trong la Bible - Ecrits intertestamenaires, Paris, Bibliothèque de la Pliade,NFR-Gallimard, 1987, tr 1655-1656. Dịch từ tiếng Pháp bởi chính người viết.





An Thụ




Bài 04

Của Cải Trong Kinh Thánh

Isaác, Một Người Giàu Hiếu Hòa

1.Thừa kế, điều hợp đạo và hợp pháp

Nếu trong bài trước, với tổ phụ Áp-ra-ham ta đã có ít bài học về cách thế ông đã làm giàu và mẫu gương về việc ông sử dụng của cải. Với vị tổ phụ thứ hai, I-sa-ác, ta sẽ có thêm một đôi chỉ dẫn bổ sung về phương cách để trở nên giàu có. Nếu với Áp-ra-ham các bài học chỉ là không làm điều sai trái trong khi làm giàu,;thì với I-sa-ác, ta sẽ thấy có một chút chủ động đóng góp tích cực hơn trong việc này.

Chúng ta biết rất ít về vị tổ phụ thứ hai này, vì Thánh Kinh chỉ dành cho ông vị trí như là một gạch nối giữa những câu chuyện kể về cha ông, Áp-ra-ham, và về Gia-cóp, con thứ của ông. Tuy nhiên, ta cũng có thể rút tỉa được ít nhiều bài học liên quan đến chủ đề của chúng ta. Thực vậy, Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng I-sa-ác là người thừa kế hợp pháp toàn bộ gia tài của Áp-ra-ham. Ở chương 25, sách Sáng Thế nói rõ rằng: Áp-ra-ham đã cho I-sa-ác hưởng toàn bộ tài sản của ông (St 25,5). I-sa-ác đã là một người giàu từ trong trứng nước. Nói khác đi, ông đã giàu nhờ kế thừa gia sản của cha mình. Trong xã hội, ta cũng thường gặp những trường hợp như thế, nó hoàn toàn hợp pháp và hợp đạo đức.

Tuy nhiên có điều cần lưu ý: trong thực tế cũng thường có nhiều vấn đề liên quan đến việc tranh giành quyền thừa kế, hiển nhiên hoặc ám muội, không hợp đạo, cũng không hợp pháp tí nào và thường rất phức tạp. Trong khuôn khổ suy nghĩ của loạt bài này, người viết chỉ xin gợi lên sự kiện, và xin được phép miễn bàn sâu, để nhường phần suy nghĩ cho quý độc giả.

2. Chỉ cậy vào lời chúc lành của Thiên Chúa

Chương 26 của sách Sáng Thế đã kể về I-sa-ác, cho thấy ông đã giàu lên ra sao. Ở nơi ông, sự đón nhận lời chúc lành của Thiên Chúa không hề là một thái độ thụ động, nó là một sự cộng tác bằng sức lao động của ông và một lối ứng xử rất êm thấm, điều này đòi hỏi không ít nổ lực nơi ông.

- Vâng lời Thiên Chúa: trụ lại và lo canh tác làm lụng.

Theo Thánh Kinh, vào thời Áp-ra-ham đã có một nạn đói xãy ra trong vùng, và I-sa-ác đã phải dời đến đất Ghê-ra thuộc xứ Phi- Li-tinh của vua A-bi-mê- Léc, với ý định sẽ di chuyển xuống Ai-cập nơi có thể tránh được nạn đói. Nhưng Thiên Chúa đã hiện ra và bảo ông rằng: Ðừng có đi xuống Ai-cập; hãy lưu lại xứ này theo lời Ta bảo. Hãy sinh sống tại chính xứ sở này, Ta sẽ ở với con và sẽ chúc lành cho con. (St 26,2-3a). I-sa-ác đã ở lại xứ Ghê-ra (St 26,6) và đã canh tác trên đất này. Thánh Kinh kể rằng ông đã được một vụ bội thu gấp trăm (xin xem St 26,12). Rồi Thiên Chúa đã chúc lành cho ông, ông đã trở nên rất giàu đến nỗi những người Phi- Li-tinh đã tỏ ra ganh tị (St 26,14). Họ đã phá những giếng nước của gia đình ông, khiến ông phải nghĩ đến chuyện dọn đi nơi khác.

-. Với tinh thần hiếu hòa, biết nhượng bộ để có hoà bình.

Ông phải dời đi, nhưng không phải là đi Ai-cập. Vua A-bi-mê- Léc đã đề nghị thẳng thừng rằng: ông đã trở nên hùng mạnh hơn họ, nên họ không thể cho ông tiếp tục ở trọ trên đất của họ được nữa; Ông phải dọn đi thôi. Vâng, ông đã dọn đi chỉ vì muốn có hoà bình và nhường lại cho người Phi- Li-tinh đất đai của họ. Thực vậy, theo lời kể của sách Sáng Thế, ta sẽ thấy rằng ông thật rất kiên nhẫn khi phải dời chỗ đến hai lần do sự ganh tị của các người dân bản xứ nơi ông dọn đến. Ông không hề to tiếng một lời nào. Chúng ta cùng xem chi tiết của câu chuyện này để có thể cảm nhận được hết cái độc đáo của ông.

Lần thứ nhất, từ khu vực Ghê-ra gần biên giới xứ Phi- Li-tinh (cách bờ biển Ðịa Trung Hải không xa) ông đã dời vào sâu hơn, chếch về phía nam, vào trong thung lũng Ghê-ra. Ở đó ông đã hai lần liên tiếp bị dân bản xứ gây trở ngại: một lần, khi ông đã khơi lại giếng nước, mà trước kia Áp-ra-ham đã đào, để chăn các đàn gia súc của ông, thì đã có sự cãi vả về giếng này giữa các gia nhân của ông và những người chăn chiên xứ Ghê-ra; ông đã nhường cho họ và tìm đào một giếng khác.

Một lần nữa, sau khi đào được giếng nước thứ hai, ông lại gặp phải sự tranh giành của dân bản xứ; ông cũng sẵn lòng nhường cho họ. Và lần này, ông đã phải dọn đi xa hơn, xuống tận phía nam cho đến vùng Bét-sa-bê. Tại đây, Thiên Chúa đã hiện ra cho ông một lần nữa và khẳng định lại lời chúc lành của Người. Rồi ông đã tìm được nước trong vùng này và đã đào được giếng cho riêng ông (St 26,15-25 và 26,32-33).

Với chúc lành của Thiên Chúa, ông đã trở nên giàu có và hùng mạnh hơn nhiều khiếnVua A-bi-mê- Léc lo sợ. Nhà vua đã phải tìm đến với I-sa-ác để xin ký hoà ước với ông sau những xung đột trên. Về phần I-sa-ác, ông luôn tỏ ra là người hiếu hòa, ông đã sẵn lòng ký thoả ước chung sống hòa bình với người Phi- Li-tinh (St 26,26-31).

3. Bài học về niềm tín thác và lòng hiếu hòa

Mặc dù ta không có chỉ dẫn về cách thế sử dụng tiền bạc nơi tổ phụ I-sa-ác, đồng thời phương cách để trở nên giàu có của ông không xa lạ lắm với chúng ta, nhất là qua việc thừa kế. Tuy vậy, một điều độc đáo nơi vị tổ phụ này, đó là tính hiếu hòa đáng nể của ông. Với một niềm tin chắc chắn vào lời chúc lành của Thiên Chúa, ông đã luôn bình thản nhường nhịn hết mức những người Phi- Li-tinh và người xứ Ghê-ra trong những tranh cãi và tranh chấp các giếng nước, một trong những thứ quí giá nhất ở các xứ sa mạc, một yếu tố hàng đầu cho việc chăn nuôi gia súc, một phương thế không thể thiếu được để có thể trở nên giàu có tại các xứ sở này. Tín thác trong bàn tay Thiên Chúa, để có thể trở nên giàu có, ông chỉ cậy vào Người mà thôi. Và cho dù ông không hề chểnh mãng trong việc làm lụng canh tác, nhưng ông không hề đặt nặng những nổ lực lao động bản thân và các điều kiện thiên nhiên.

Trong niềm tín thác và lòng hiếu hòa, ông đã hoàn tất cuộc đời của mình như một người giàu rất hiền hoà. Ðó có lẽ là một bài học đáng quí cho mỗi người chúng ta.





An Thụ




Bài 05

Của Cải Trong Kinh Thánh

Gia-cóp, Con Người Khó Hiểu

Sau bài học của I-sa-ác, ta sẽ tìm hiểu ở đây cách làm giàu và lối sử dụng của cải vật chất của tổ phụ Gia-cóp. Nhưng khi nhắc đến tên của vị này, đối với những người có hiểu biết về Thánh Kinh, Gia-cóp thường bị mang tiếng xấu là rất ma- Lanh và giỏi nghề lừa gạt. Nếu thật như thế thì có gì đáng để ta học nơi ông và chẳng có lý do gì ta phải mất thời giờ với ông. Nhưng không, ông là một nhân vật hết sức độc đáo, rất gần gủi với chúng ta và sẽ có rất nhiều điều hay học được nơi ông.

Có điều là trước hết phải biện hộ cho ông khỏi những tai tiếng đôi, vì cho dù xét theo khía cạnh nào đi nữa, đạo hoặc đời, ông cũng không hề là người xấu, trái lại thì có. Vì vậy, có lẽ ta sẽ phải dừng lại nơi ông lâu một chút để bàn cho thông suốt vấn đề. Ta sẽ tìm hiểu về ông qua hai phần: phần thứ nhứt, nhằm lý giải cho nỗi oan của ông; và, phần thứ hai, nhằm tìm học hỏi những điều hay nơi ông. Bài này sẽ dành cho phần thứ nhứt, còn phần thứ hai sẽ được bàn đến ở bài tiếp theo.

1. Cuộc đổi chác khác thường và cuộc lừa gạt dễ dàng

Sau Áp-ra-ham, ở chương thứ 25 của sách Sáng thế, chỉ với một ghi chú rất nhỏ về việc chào đời của Gia-cóp và Ê-xau, nhân vật Gia-cóp đã bắt đầu xuất hiện gần như đồng thời với I-sa-ác cha mình (St 25,19-28). Vài chi tiết có vẻ nhỏ nhặt về việc hạ sinh Gia-cóp và Ê-xau như vầy, chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở đây, thật có lý do của nó. Quả vậy, các chi tiết này sẽ giúp ta hiểu rõ hơn nhân vật Gia-cóp độc đáo. Vậy trước khi bàn đến câu chuyện đổi chác quyền trưởng nam và việc đánh lừa I-sa-ác để lãnh lời chúc lành, ta hãy dừng lại một chút với câu chuyện chào đời của hai anh em sinh đôi này.

* Hai anh em sinh đôi, hai cá tính khác biệt

Trong câu chuyện của sách Sáng Thế Ký 25,21-28, có hai chi tiết đáng để ta lưu ý: một là, những cái tên được đặt cho hai đứa trẻ cùng với cá tính và nghề nghiệp của mỗi cậu; hai là, tình cảm của hai vợ chồng I-sa-ác đối với hai đứa con.

Các soạn giả Sách Thánh ghi lại rằng: Ðứa trẻ thứ nhất ra đời, nước da nó xậm đỏ và người nó phủ đầy lông, người ta đặt tên cho nó là Ê-xau; liền tiếp theo đó là cậu em nó cũng chào đời tay nắm gót Ê-xau, người ta gọi nó là Gia-cóp (St 25,25-26). Dường như đã có một cuộc tranh giành thứ tự chào đời ngay từ khi còn trong bụng mẹ giữa hai anh em sinh đôi này. Và rồi sau đó, Ê-xau đã trở nên một tay thợ săn lành nghề, suốt ngày rong rũi trên các đồng cỏ còn Gia-cóp là một người trầm tĩnh, suốt ngày quanh quẩn trong lều [với chiên cừu] (1) (St 25,27). Về phía I-sa-ác và Rê-béc-ca thì I-sa-ác thương Ê-xau hơn bởi vì ông rất mê món thịt rừng của anh ta, trong khi đó Rê-béc-ca thương Gia-cóp hơn (St 25,28). Ðể thấy ngọn ngành của vấn đề, thiết tưởng, phải tìm trở lên cho đến đây.

Hai anh em sinh đôi đó, với hai cá tính và thể lý khác nhau, hai chọn lựa nghề nghiệp khác nhau, đã chung sống được với nhau dưới cùng một mái nhà trong bối cảnh tình thương không đồng đều của cha mẹ. Nhưng điều đó chỉ kéo dài cho đến một ngày nọ thì sự đổ vỡ xảy đến, sau vụ biển lận lời chúc lành. Vấn đề ở đây là không thể đơn giản để đổ mọi tội cho Gia-cóp và coi Ê-xau như là nạn nhân. Vì nó đã trở nên rất phức tạp, và ta sẽ phải dành chút thời giờ để có thể hiểu cho tường tận đến mức có thể.

* Gia-cóp là người xấu?

Ở đây, ta gặp hai mẫu chuyện liên quan đến Gia-cóp khiến ông bị gán tiếng là ma- Lanh, là tay gạt gẫm, đó là vụ mua bán quyền trưởng nam với Ê-xau (St 25,29-34) và vụ lừa I-sa-ác để nhận lời chúc lành (St 27,1-30). Ta sẽ đọc kỹ lại hai câu chuyện này, vì trong đó có rất nhiều điều thú vị.

Nếu ta khởi đi từ một vấn nạn, làm sao có thể hiểu được rằng các soạn giả Sách Thánh lại đơn thuần kể xấu về vị tổ phụ mà tên của ông đã được chọn để gọi cả dân tộc này: Ít-ra-en, cái tên mà chính Thiên Chúa đã đặt cho ông, sau một cuộc vật lộn với Người suốt đêm thâu (xin xem St 32,21-28). Nếu ta chấp nhận câu trả lời là không thể đơn thuần hiểu như vậy, thì có chăng ta phải hiểu rằng qua các câu chuyện này các soạn giả Thánh Kinh muốn nói những điều tích cực hơn về Gia-cóp. Và do đó, sẽ có nhiều điều cần phải làm cho sáng tỏ. Vậy, ta sẽ dừng lại ở từng câu chuyện một với hy vọng có thể tìm thấy một câu trả lời gần với sự thật hơn. (Những điều sẽ được nói dưới đây là giả thuyết của người viết khi đọc lại Thánh Kinh dưới một nhãn quan riêng, với tham khảo và qui chiếu dựa trên các nghiên cứu liên quan của ngành chú giải Thánh Kinh).

a. Gia-cóp và Ê-xau, cuộc đổi chác khác thường

Câu chuyện đổi chác quyền trưởng nam này được Thánh Kinh, trong sách Sáng Thế 25 kể rất vắn chỉ trong vài câu (2). Bối cảnh được dựng lên thật đơn giản và rất tự nhiên: một lần nọ, Ê-xau đi săn về và cảm thấy đói lả; trông thấy Gia-cóp đang nấu tô cháo đậu đỏ, vốn chẳng phải là món cao lương gì, Ê-xau, với cá tính sẳn có, đã đề nghị một cách không mấy lịch sự: Ðể tao húp tô cháo, cái tô cháo đỏ đỏ đó, tao đói lắm rồi. Nhưng Gia-cóp, cũng không phải là tay vừa, đã chớp ngay cơ hội và đề nghị: Trước hết hãy bán cho tớ quyền trưởng nam đi. Vẫn với tính cách rất thô, Ê-xau đã vô tình hay hữu ý trả lời: Tao sắp chết [vì đói] tới nơi, thử hỏi khi đó cái quyền trưởng nam kia có giúp được gì cho tao đâu? Gia-cóp vẫn chưa chịu, đòi rằng: Anh hãy thề trước đã. Ê-xau đã thề và đã đồng ý bán quyền trưởng nam của anh ta cho Gia-cóp. Gia-cóp đã tỏ ra rất rộng rãi, chẳng những trao cháo mà còn thêm ít bánh mì nữa, Ê-xau đã ăn uống rồi bỏ đi ra. Và Thánh Kinh thêm rằng: Ê-xau đã coi rẻ quyền trưởng nam của mình. Cuộc đổi chác này quả là không bình thường. Nó không bình thường vì nhiều lý do và dưới nhiều góc độ khác nhau. Ta sẽ xét nó theo ba góc độ:

1) Chuyển nhượng quyền trưởng nam là điều không thể.

Xét về mặt xã hội, việc bán quyền trưởng nam quả là không bình thường, vì nó vốn gắn chặt với việc chào đời, là điều chỉ diễn ra một lần và không thể thay đổi được. Theo luật pháp, quyền thừa kế có thể được chuyển nhượng cho bất cứ ai, tùy theo ý định của người để lại tài sản; nhưng quyền trưởng nam không thể đổi được từ người này sang người khác, vì nó vốn được ấn định theo thứ tự ra đời của những người con, không thể có chuyện làm lại kiểu khác được. Vì vậy, dưới góc nhìn xã hội, câu chuyện đổi chác trên có vẻ như đùa. Và, Ê-xau đã có lý khi dám diễu cợt, ngay cả trong việc thề hứa, nhường quyền trưởng nam cho Gia-cóp, vì việc đó không hề có hiệu lực trong thực tế. Còn Gia-cóp thì có vẻ chẳng khác một anh khờ đi mua trăng đáy nước, có được gì chăng chỉ là mất trắng tô cháo đậu. Quả thật, cho tới ngày nay, có ai trong chúng ta lại coi hoặc gọi Gia-cóp là anh của Ê-xau đâu. Ê-xau vẫn luôn là anh, còn Gia-cóp là em.

2) Nhưng đối với Thiên Chúa nó không còn là bất khả

Xét về mặt đức tin và thuần tôn giáo, ta thường nghe giải thích rằng Thiên Chúa đã chọn người bé mọn để góp phần thực hiện chương trình cứu độ của Người. Câu chuyện này sẽ giúp biện minh cho việc chuyển quyền thừa kế lời hứa của Thiên Chúa với Áp-ra-ham: sẽ không còn là vấn đề, khi xảy ra sự kiện rằng lời hứa đó đã được tiếp tục thực hiện nơi dân Ít-ra-en, dòng dõi của Gia-cóp, mà không phải nơi dân Ê-đom hoặc các dân khác, được coi là dòng dõi của Ê-xau. Do đó, sự bất bình thường trong việc chuyển quyền thừa hưởng lời hứa và chúc lành như vậy đã có lý do của nó. Tất cả mọi chuyện đó đã được giải thích là diễn ra theo ý định của Thiên Chúa. Và, ơn cứu độ đã lan xuống đến tận những người tín hữu ngày nay ngang qua Dân Ít-ra-en, và rồi qua giáo hội của Chúa Ki-tô.

3) Ê-xau và Gia-cóp, ai mất, ai được?

Xét về mặt kinh tế học, ở đây, cuộc trao đổi, theo một hình thức kinh tế rất thô sơ, giữa món hàng (quyền trưởng nam) lấy một món hàng khác (tô cháo đậu) đã diễn ra thật hoàn chỉnh. Thật vậy, đã có hai món hàng để trao đổi cho nhau, một cuộc thương lượng giữa hai người chủ sở hữu và một hành vi trao đổi cụ thể có kèm theo một lời hứa từ phía Ê-xau. Cuộc đổi chác này đã hội đủ mọi yếu tố của một hành vi trao đổi hàng hóa, và như thế nó có hiệu lực pháp lý trong việc chuyển quyền sở hữu. Có điều là, không có một chứng cớ hoặc chứng nhân nào (như trường hợp Áp-ra-ham mua đất ở Khép-ron mà ta đã có dịp nhắc đến trong bài nói về Áp-ra-ham) ngoại trừ một lời hứa suông của Ê-xau. Do đó, dường như, Gia-cóp đã bị gạt khi quá đặt tin tưởng vào lời thề của Ê-xau, người đã vội quên đi hoặc cố tình không muốn biết đến điều này. Vì ta sẽ thấy Ê-xau quyết tìm giết Gia-cóp sau khi đã bị Gia-cóp đoạt mất lời chúc lành và anh ta đành phải nhận lời chúc dữ còn lại của I-sa-ác (St 28,41). Ðó cũng là một điều không bình thường.

Riêng Gia-cóp, dường như ông vẫn tin tưởng vào hiệu lực của cuộc trao đổi này và ông kiên nhẫn chờ đợi một cơ hội để nhận lấy phần quyền trưởng nam của ông. Và, có lẽ, ông hiểu rằng điều này sẽ có hiệu quả là cho ông quyền lãnh nhận lời chúc lành của cha mình thay chỗ của Ê-xau. Ðiều đó đã xảy đến trong câu chuyện thứ hai mà ta sắp nói tới.

Ta có thể nhận định rằng, trong vụ này, Gia-cóp hoàn trong không có gì đáng trách hoặc đáng để bị coi là người xấu. Tuy nhiên, câu chuyện thứ hai dưới đây mới thật sự mang lại tai tiếng đáng kể cho Gia-cóp.

b. Gia-cóp và I-sa-ác, vụ lừa gạt dễ dàng

Theo thiển ý, câu chuyện về vụ lừa gạt này phải được đọc cho có gốc có ngọn. Trong đó,sự tham gia của người mẹ, bà Rê-béc-ca, thật đáng kể lắm. Và, thiết tưởng, cũng cần gắn nó với một nguồn gốc gần hơn, nhưng đáng kể hơn nữa, đó là việc Ê-xau đã cưới các cô vợ người Hít-tít, là những người không cùng trong họ hàng (xin xem St 26,34). Ðiều này đã làm I-sa-ác và Rê-béc-ca không hài lòng tí nào (xin xem St 26,35; 27,46). Không như trường hợp của I-sa-ác: phải cử người trở về đến tận quê ngoại để tìm vợ cho ông: bà Rê-béc-ca (xin xem St 24). Vì đây là một trong những điều rất hệ trọng theo phong tục.

Nếu suy luận xa hơn một chút, ta sẽ thấy, có lẽ, Ê-xau đã tự tách ra khỏi những ràng buộc gia đình, và vì thế không còn xứng đáng để kế tục dòng dõi của ông cha, tức là làm trung gian chuyển giao lời hứa của Thiên Chúa cho thế hệ tiếp theo, mà theo quan niệm thần học Thánh Kinh thì mối quan hệ này dẫn lên cho đến tận Thiên Chúa. Và, có lẽ, đó cũng chính là điều bận tâm của bà mẹ. Vì Rê-béc-ca, một mặt vừa để ý đến việc này, mặt khác vừa yêu thương Gia-cóp hơn, đã lợi dụng vai trò người mẹ trong gia đình của bà để thực hiện ý định của mình: bà đã lén nghe được lời yêu cầu của I-sa-ác bảo Ê-xau đi săn về làm cho ông món cháo thịt rừng mà ông ưa thích, rồi ông sẽ chúc lành cho (xin xem St 27,1-5); bà đã thuyết phục được Gia-cóp và tổ chức cho anh này gạt cha mình để lãnh nhận lời chúc lành (St 27,6-29); và sau đó bà đã lo cho Gia-cóp trốn đi về quê ngoại, đến ở nhà ông cậu La-ban để tránh thảm kịch huynh đệ tương tàn với Ê-xau (xin xem St 27,41-45). Ở đây, Gia-cóp được mô tả như có vẻ rất dè dặt và bị động trước sự sắp xếp và thúc giục của mẹ.

Còn I-sa-ác, sau khi biết rõ là đã chúc lành lầm cho đứa con thứ, không hề tỏ ra hối tiếc; có chăng là ông đã tiếc cho anh con cả bị lỡ mất lời chúc lành, và hơn nữa, ông còn trao cho Ê-xau, đứa con mà ông yêu thương hơn, lời chúc dữ (xin xem St 27,39-40).

Trong khi đó, về phần Gia-cóp, như ta đã gợi ý ở trên kia, có lẽ ông tự nghĩ rằng ông có quyền hưởng nhận lời chúc lành thay chỗ Ê-xau vì ông tin rằng mình đã được ông anh nhượng lại quyền trưởng nam. Có điều là ông không thể thuyết phục cha mình trao lời chúc đó cho ông. Mặt khác, ông không dám tin rằng ông có thể gạt được cha mình để nhận lời chúc. Ta có thể nhận ra điều này khi nghe ông trả lời cho bà mẹ: Mẹ coi, anh Ê-xau con thì lông lá, còn con thì nhẵn nhụi. Biết đâu cha con sẽ rờ con; con sẽ bị cha coi như một tên lừa gạt, và sẽ phải chuốc lấy lời nguyền rủa, thay vì được chúc phúc (St 27,11-12). Nhưng khi mẹ ông, bà Rê-béc-ca, một bà vợ rất hiểu tính chồng, đã giải thích rõ cách thức thực hiện vụ này, thì với sự giúp đỡ và ủng hộ của mẹ, Gia-cóp đã đóng hoàn hảo vai Ê-sau, đến nỗi I-sa-ác đã bị lừa một trăm phần trăm.

2. Lỗi lầm nhưng biết sửa

Gia-cóp không phải là không có phần lỗi, xét về mặt luân lý học, tội cố tình lừa gạt. Nhưng ông cũng có lý do để làm điều đó, như vừa nói trên kia. Tuy nhiên, trong bài tiếp theo, ông sẽ tìm cách sửa chữa và bù đắp lại lỗi lầm những này đối với cha ông là I-sa-ác,, và đối với Ê-xau, anh của ông. Và ông còn làm nhiều điều khác nữa. Thiết tưởng, ngang qua cung cách đối xử của ông trong tương quan xã hội, ta sẽ nhận ra cách ông làm giàu và cách ông chi dụng tài sản.

An Thụ

Chú thích:

(1): Các đoạn này được dịch lại do chính người viết với ý định nói lên những điều muốn nói. Và mấy từ trong ngoặc vuông [.] là do người viết thêm vào để giải thích thêm về nghề nghiệp của Gia-cóp.

(2): Ở đây người víết xin chuyển dịch lại bản văn theo một lối hành văn riêng. Nhưng để giúp quí độc giả tiện so sánh, xin được trích lại đây toàn bộ câu chuyện theo bản dịch của CGKPV: Lần kia, Gia-cóp đang nấu cháo, thì Ê-xau từ ngoài đồng về, mệt lả. Ê-xau nói với Gia-cóp: Cho anh ăn món đo đỏ kia với, vì anh đang mệt lả. Vì thế người ta đặt tên cho nó là Ê-đôm. Gia-cóp nói: Anh hãy bán quyền trưởng nam của anh cho em trước đã! Ê-xau nói: Anh đang sắp chết, thì quyền trưởng nam có ích gì cho anh? Gia-cóp nói: Vậy anh thề ngay với em đi. Ê-xau liền thề và bán quyền trưởng nam của mình cho Gia-cóp. Bấy giờ Gia-cóp cho Ê-xau bánh và cháo đậu. Ê-xau ăn uống, rồi đứng dậy đi. Ê-xau đã coi thường quyền trưởng nam. (St 25,29-34).





An Thụ




Bài 06

Của Cải Trong Kinh Thánh

Gia-cóp, Trung Tín Với Thiên Chúa Và Biết Xử Thế

Nếu nơi Áp-ra-ham và I-sa-ác, ta đã học được chiều kích thụ động của cách thế làm giàu, tức là những gì các ngài đã tránh không vi phạm trong sự nghiệp làm ăn. Thì ở Gia-cóp ta sẽ có cơ hội học nơi ông cách thức chủ động trong làm ăn sinh sống, tức là ta sẽ thấy các hành động của ông cụ thể hơn, và qua đó ta sẽ nhận ra nơi ông rất nhiều nét rất gần với mỗi người trong chúng ta. Vì quả thật, ông có một cung cách xử thế rất người.

Trong cuộc sống, ta thường rất dễ bị rơi vào tình trạng chỉ cố gắng làm trọn một vài điều này mà lơi là những điều khác, và ngược lại. Ðiều khó và rất khó là làm sao giữ trọn mọi đàng: làm ăn sinh sống, và cả làm giàu nữa, trong khi vẫn giữ được tốt mọi quan hệ, hoặc khó hơn nữa là gây lại những mối quan hệ đã đổ vở; đồng thời, vẫn luôn trung tín tin thờ Thiên Chúa, trong khi luôn quan tâm giữ đức công bình và lòng bác ái với mọi người.

Lần trước, ta đã thấy đôi nét về con người và cá tính của nhân vật Gia-cóp. Ông là một con người trầm tĩnh, biết nhìn bao quát và kiên trì theo đuổi các dự tính của mình, chịu khó làm lụng, rất sòng phẳng nhưng cũng rất lanh lợi; và một điều rất quan trọng là nhận biết và thờ kính Thiên Chúa mà ông tin. Trong bài này, ta sẽ tìm hiểu vị tổ phụ này qua từng mối quan hệ xã hội của ông, với mong ước sẽ rút được một đôi bài học trong lĩnh vực này.

Vậy ta sẽ lần lượt xem ông xử sự thế nào với cha, với anh, với cậu, với vợ con, và với Thiên Chúa.

1. Gia-cóp với cha, hiếu thảo đến cùng

Trong bài trước, ta đã thấy dường như I-sa-ác chỉ thương và nghĩ đến anh con trưởng Ê-xau và quên lững người con thứ Gia-cóp. Tuy vậy, Gia-cóp luôn tỏ ra kính sợ đối với cha mình, ông sẵn lòng vâng lời và luôn cố gắng thực hiện theo ý cha ( St 28,1-5; 29,15-30).

Có điều, như ta đã thấy, Gia-cóp đã phải gạt cha mình để nhận lời chúc lành. Ông làm như vậy, có lẽ vì hai lý do: thứ nhất, như ta đã nói trong bài trước, vì ông tin rằng ông có quyền thừa hưởng quyền trưởng nam đã mua của Ê-xau. Thứ hai, ông tin là ông phải thay thế Ê-xau, đó điều cần thiết để bảo đảm cho việc kế thừa lời hứa của tổ tiên một cách tinh tuyền; vì ông nhận ra rằng, khi chọn cưới những người ngoại tộc, Ê-xau đã đi trệch ra khỏi quỹ đạo đó. Hai lý do này không được Thánh Kinh nói rõ, nhưng không phải là ta không có lý để suy luận ra như vậy. Thực vậy, dường như Gia-cóp hiểu khá rõ tâm tính của người anh em sinh đôi của ông, ta sẽ thấy điều này rõ hơn, trong phần nói về tương quan Gia-cóp và anh mình.

Còn Ê-xau, dường như, ông ráng làm theo ý cha chỉ vì lời chúc lành mà thôi: khi nhận ra rằng mình đã bị hụt mất lời chúc lành và biết rằng cha mẹ chẳng hài lòng với các cô con dâu người Ca-na-an, Ê-xau đã chạy đi cưới thêm một cô vợ thuộc dòng dõi Ít-ma-ên với hy vọng sẽ cứu vãn được tình thế (St 28,6-9), nhưng mọi chuyện đã quá muộn.

Một chi tiết khác cho thấy lòng kính trọng, yêu thương và hiếu thảo của Gia-cóp đối với cha: sau khi đã giao hoà với anh mình, và đến định cư tại Bết Ên theo lời của Thiên Chúa (xin xem St 35,1-15), Gia-cóp đã trở về thăm cha tại Măm-rê, trước khi I-sa-ác qua đời (xin xem St 35,27-29).

Gia-cóp đã giữ lòng hiếu thảo với cha cho đến cùng, không chỉ vì ông đã có mặt vào giờ lâm chung của I-sa-ác, mà quan trọng hơn nữa là ông đã chọn làm trọn ý cha mình : gìn giữ giềng mối tổ tiên. Ðó là một bài học đáng giá đầu tiên và ông còn nhiều điều khác nữa để cho ta học, như là cung cách xử sự với Ê-xau dưới đây.

2. Gia-cóp với anh, tan rồi lại hợp

Lần trước, ta đã thấy làm sao Gia-cóp đã lợi dụng cái đói của Ê-xau để đổi tô cháo đậu lấy quyền trưởng nam. Và sau đó mọi chuyện đã diễn ra rất phức tạp. Quyền trưởng nam thì không có gì thay đổi, nhưng việc thừa kế lời chúc lành đã được chuyển cho Gia-cóp với một vụ cướp cờ. Sau vụ đó, mối quan hệ giữa hai anh em thật xấu, xấu đến mức ta nghe kể: Ê-xau tự nhủ: Sắp đến ngày lo đám tang cho cha ta rồi; bấy giờ ta sẽ giết Gia-cóp em ta! (St 28,41). Lời này gợi lại chuyện Ca-in đã giết em mình là A-ben (xin xem St 4,3-8). Thực ra, I-sa-ác còn sống ít ra là 20 năm nữa, tính theo số năm Gia-cóp cư ngụ tại nhà La-ban.

Không có gì nghi ngờ về việc Gia-cóp luôn bận tâm đến việc làm hoà với Ê-xau qua cách ông đã chuẩn bị để gặp lại anh mình, khi trở về từ nhà ông cậu La-ban. Dường như Gia-cóp đã tìm hiểu rất kỹ về người anh em sinh đôi mà vốn ông đã biết khá rõ tâm tính. Thực vậy, ta thấy ông đã chuẩn bị thật chu đáo cho cuộc tái ngộ với anh. Nó đã được thực hiện bằng nhiều buớc: trước hết bởi các đầy tớ của ông với những đàn gia súc dâng tặng cho Ê-xau làm lễ vật. Ðiều này thật hiệu quả: Ê-xau nguôi lòng dần cho đến khi chính Gia-cóp thân hành gặp anh với nhiều lễ vật hơn nữa, vốn là của cải do chính công sức của ông làm ra. Ông đã xoa dịu hoàn toàn anh mình (St 32,4-22). Việc này đạt được không chỉ đơn thuần vì lễ vật dâng tặng mà quan trọng hơn là vì tấm lòng hiếu hòa và muốn làm hoà của ông. Thực vậy, một con người đã dám vật lộn với Sứ Thần của Thiên Chúa như Gia-cóp (St 32,23-30), có lẽ, không dễ run sợ trước một Ê-xau, có chăng là ông không muốn xảy ra cảnh huynh đệ tương tàn, điều mà cha mẹ ông không mong đợi.

Gia-cóp đã biết và dám dùng của cải do chính công sức mình làm ra, khi ông còn ở nhà La-ban, để mua lấy hoà bình cho ông và gia đình ông, để giao hoà với người anh mà vốn mối quan hệ đã trở nên vô cùng tồi tệ. Chẳng những ông đã tránh được cảnh huynh đệ tương tàn mà còn thiết lập lại được tình anh em như thuở nào. Quả vậy, khi I-sa-ác qua đời, Ê-xau và Gia-cóp đã chôn cất ông (St 35,29).

Vâng, thêm một bài học quí giá cho ai ở trong hoàn cảnh tương tự. Tuy nhiên, Gia-cóp không phải là tay vừa, trong tương quan với La-ban ông cũng biết ăn miếng trả miếng.

3. Gia-cóp với cậu, ăn miếng trả miếng

Thời gian biệt xứ của Gia-cóp tại nhà La-ban đã kéo dài đến 20 năm trời (St 31,38). Lúc đầu Gia-cóp hết lòng phục vụ làm công cho La-ban với lòng biết ơn đã cưu mang ông trong thời kỳ lưu lạc. La-ban, một ông chủ giỏi khai thác và biết lợi dụng yếu điểm của người khác: ông nhận ra rằng Gia-cóp rất mê cô con gái út Ra-khen của ông, nên ông tìm cách gợi ý cho Gia-cóp tự nguyện phục vụ ông 7 năm trời để được cưới cô ta (St 29, 15-20). Nhưng khi hết hạn 7 năm, ông đã tổ chức gạt Gia-cóp bằng cách đánh tráo cô Ra-khen bằng cô chị Lê-a trong đêm tân hôn. Khi Gia-cóp chất vấn thì ông giải thích bằng phong tục của xứ ông và đặt Gia-cóp trước tình thế phải chọn làm công cho ông thêm 7 năm nữa để thực sự cuới được cô Ra-khen (St 29,21-30). Sau 14 năm ròng làm công cho ông cậu để cưới được hai người vợ, Gia-cóp vẫn hoàn tay trắng. Ông muốn trở về quê quán của mình, nhưng La-ban chẳng tỏ chút ý nào về việc cho Gia-cóp ít tài sản làm vốn, mặc dù ông đã trở nên ngày một giàu có nhờ tay Gia-cóp (St 30,25-30).

Nhưng, có lẽ, La-ban đã quên rằng cháu ông vốn là một tay không vừa. Thật vậy, một khi nhận rõ rằng ông cậu chơi khăm mình, Gia-cóp đã nghĩ ra cách để lấy lại phần công của ông đáng được hưởng: ông xin ở lại làm việc tiếp tục cho La-ban với một điều kiện có vẻ chẳng thông minh gì, đó là xin nhận phần công cán là những con vật vằn vện, trong khi đó các đàn gia súc khổng lồ của La-ban chỉ tuyền trắng phau, ngoại trừ vài con lốm đốm (xin xem St 30,31-33). La-ban luôn đinh ninh rằng lần này ông lại ép được thằng cháu làm việc theo ý mình. Ông đã thay đổi công xá của Gia-cóp đến 10 lần trong vòng 6 năm đó (xin xem St 31,6-7; 31,38-41). Cho dù thế, Gia-cóp vẫn cứ phải làm việc cho ông, khiến ông càng tin tưởng vào tài nghệ khai thác của mình. Ông tin rằng ông đã đắc thắng. Có điều, ông không nghĩ nỗi rằng, cho dù "vỏ quít" của ông có dầy đến mấy, "móng tay" của Gia-cóp còn nhọn hơn nhiều. Nhưng khi ông nhận ra điều đó thì đã quá muộn rồi.

Về phần Gia-cóp, ông có kế hoạch, nhưng ông chỉ thực hiện nó để lấy phần công lao ông đáng được sau 20 năm ròng rả làm việc cực khổ. Ông lo lấy phần của ông, nhưng ông cũng không quên phần của La-ban, để rồi cuối cùng cả hai cùng giàu có như nhau. Thánh Kinh ghi rằng: Thế là ông [Gia-cóp] trở nên giàu, thật giàu (St 30,43). Rồi một ngày kia, khi nhận thấy sẽ không ổn, nếu cứ tiếp tục ở lại lâu hơn, Gia-cóp đã tính chuyện trốn đi trở về quê quán (St 31,1-21) với hy vọng sẽ được gặp lại cha và giao hoà với anh.

Bài học về một lối xử sự rất sòng phẳng, nhưng cũng rất nhân bản. Trước hành vi khai thác của một tay ma- Lanh như La-ban, Gia-cóp tìm cách lấy lại phần công của mình, đồng thời ông cũng không quên phần của ông cậu. Ở đây vấn đề trở nên rất tế nhị. Cần phải thật thận trọng trước những tình huống như thế, vì chẳng phải là lý tưởng gì cái cung cách ăn miếng, trả miếng. Tuy nhiên, ta thấy nó có mặt trong cách xử thế của vị tổ phụ này. Và một điều đáng giá hơn: cách ông cư xử trong gia đình với tư cách một người cha.

4. Gia-cóp với vợ con, yêu thương tất cả

Nếu Áp-ra-ham yêu thương vợ cả, Sa-ra, và con bà là I-sa-ác, hơn người vợ thứ, Ha-ga và đứa con Ít-ma-ên của bà: chỉ vì sự ganh tỵ và lời xui giục của bà vợ cả mà ông đã xua đuổi hai mẹ con Ha-ga ra khỏi nhà (St 21,8-14). Và nếu I-sa-ác thương yêu người con trưởng hơn đứa con thứ: ông chỉ nghĩ đến mỗi mình Ê-xau và dường như không hề biết đến sự có mặt của Gia-cóp. Thì ơ Gia-cóp, vị tổ phụ thứ ba này, ta sẽ thấy ông đã quan tâm đến tất cả gia đình đông đúc của ông, không loại trừ một thành viên nào. Thật vậy, cho dù yêu bà Ra-khen hơn hết, và qua bà yêu thương hai đứa con Giu-se và Ben-gia-min của bà hơn mười người con khác của ba bà vợ kia (Lê-a, Din-pa và Bin-ha); cho dù có sự ganh tỵ giữa các bà vợ (St 30,1-21) và giữa các anh em kia với đứa con cưng Giu-se của ông (St 37, 2-11); và cho dù đã xảy ra chuyện mấy người anh thoả hiệp bán Giu-se sang Ai-cập làm nô lệ chỉ vì ganh ghét (St 37,12-36); Gia-cóp đã gần như luôn luôn qui tụ được cả gia đình ông chung quanh ông và ông đã quan tâm đến từng thành viên một.

Ðể chứng minh cho điều này, ta có câu chuyện về những ngày cuối đời của Gia-cóp trên đất Ai-cập trong St 48,1 - 50,14: sau khi gia đình được đoàn tụ tại đất Gô-sen thuộc xứ Ai-cập (St 47,27), trước khi chết, ông Gia-cóp đã qui tụ tất cả con cái ông lại rồi chúc lành cho từng người một, mỗi người một lời chúc phúc riêng (St 49,28), trong đó có cả hai đứa cháu nội Mơ-na-se và Ép-ra-im, con của ông Giu-se, mà Gia-cóp đã nhận làm con nuôi trước đó (St 48,1-6).

Bài học về tình thương và sự quan tâm đến tất cả. Gia-cóp đã qui tụ được đại gia đình của ông trong tình thương. Gia đình đó đã dần trở thành một dân tộc, Dân Chúa chọn.

5. Gia-cóp với Thiên Chúa, một lòng trung tín

Ta có thể nói rằng điều khiến Gia-cóp đã có thể giữ được trọn vẹn mọi mối tương quan với mọi người là vì ông đã cắm rễ sâu trong niềm tín trung nơi Thiên Chúa ông thờ. Ta có lý khi tin như vậy, vì Thiên Chúa đã có mặt bàng bạc trong suốt cuộc sống của ông: ngay từ khi còn trong bụng mẹ (St 25,21-23) và trong mỗi khúc quanh cuộc đời. Phần ông, ông luôn giữ lòng kính sợ và trung tín với Ngài trong mọi hoàn cảnh.

Lần thứ nhất, khi ông rời nhà cha mẹ đi đến nhà La-ban để trốn Ê-xau, thì tại Lút, nơi mà ông sẽ đặt tên lại là Bết Ên, vào đêm hôm đó Thiên Chúa đã hiện ra đứng trên đầu một chiếc thang bắt lên tận trời: Người đã chúc lành cho ông, còn ông đã khấn hứa sẽ dâng cho Người một phần mười mọi của cải mà ông được ban cho (xin xem St 28,10-22).

- Lần thứ hai, sau 20 năm sinh sống nơi nhà La-ban, và nhờ chúc lành của Thiên Chúa ông đã trở nên giàu có, Thiên Chúa đã phán với ông: Hãy trở về quê cha đất tổ, về với họ hàng ngươi: Ta sẽ ở với ngươi (St 31,3).

- Lần thứ ba, trên đường trở về từ nhà La-ban, sau khi ký thoả hiệp với ông cậu La-ban về việc phân chia ranh giới giữa hai ông, đến một một nơi mà ông đặt tên là Ma-kha-na-gim vì ông đã nhìn thấy các sứ thần của Thiên Chúa ở đó (xin xem St 32,1-3).

- Lần thứ tư, suốt đêm hôm trước khi ông gặp lại Ê-xau, bên bờ sông Giáp-bốc, nơi ông sẽ đặt tên là Pơ-nu-ên, ông đã vật lộn với một Người - được nhìn nhận là chính Thiên Chúa - và Người đó đã chúc lành cho ông. Cũng tại nơi đó, ông được Người đó đổi tên là Ít-ra-en, thay cho tên Gia-cóp (xin xem St 32,23-33).

- Lần thứ năm, khi ông đang cư ngụ tại Si-khem, Thiên Chúa đã phán bảo ông hãy dọn đến ở Bết Ên (xin xem St 35,1).

-Và lần cuối cùng, trên đường di chuyển xuống Ai-cập để được nhìn thấy lại đứa con yêu quí Giu-se, ông đã dừng lại tại Bơ-e Sơ-va để dâng lễ vật kính Thiên Chúa, và trong một thị kiến ban đêm, Thiên Chúa đã hiện ra với ông để khẳng định sự đồng hành của Người với ông và dòng dõi ông, cho dù là ở Ai-cập (St 46,1-4).

Gia-cóp đã không lơi là trong việc thờ kính Thiên Chúa, ông trung tín cho đến cùng. Ông xứng đáng là một trong ba vị tổ phụ của Dân Thiên Chúa, với một niềm tin tinh tuyền.

6. Một ví dụ hoàn hảo về cách xử thế

Làm nên sự nghiệp bằng chính công sức của mình, lấy cho được phần của mình nhưng không quên phần của người khác, không ngại dùng của cải để được lại anh em, cùng với tính xấu của một con người, Gia-cóp, là nhân vật thật gần gủi với chúng ta. Tuy nhiên, ông vượt trội chúng ta về mặt niềm tin. Chính vì thế mà ông đã có thể có được cách xử thế rất đáng phục và cũng rất khó thực hiện. Ðối với gia đình, ông đã xử thật trọn vẹn: kề cận bên cha vào giờ phút cuối, giao hoà được với anh, thoả hiệp được với cậu, qui tụ được các con - để trở thành một dân tộc, Dân của Chúa. Tắt một lời, nơi Gia-cóp: Một lòng tín trung với Thiên Chúa, một cung cách xử thế vẹn toàn.





An Thụ




Bài 07

Của Cải Trong Kinh Thánh

"Con Bê Bằng Vàng", Tội Chống Lại Thiên Chúa

Một góc nhìn khác đối với của cải

Sau những gương mặt đáng kính của ba vị đại Tổ phụ, mà nơi các ngài, chúng ta đã có thể học được những điều bổ ích liên quan đến chủ đề sử dụng của cải vật chất. Trong Thánh Kinh, của cải vật chất vốn không phải là một chủ đề cấm kỵ, như ta đã thấy, nhưng bên cạnh đó cũng cần lưu ý đến sự cảnh giác rất quan trọng về các mối nguy do chúng có thể mang lại. Thiết tưởng, đã tới lúc phải nói về những nguy hiểm này.

Một mặt, để tránh dừng lại quá lâu nơi quyển sách thứ nhất của bộ Thánh Kinh và với ý muốn tiến xa hơn trong cuộc hành trình của chúng ta dọc theo bộ sách Mạc Khải này, vì còn không ít điều cần phải nói, người viết xin được để qua một bên một nhân vật thú vị khác, ông Giu-se, con trai áp út của Tổ phụ Gia-cóp. Lý do không phải vì độ dài của những trang viết, mà là do tính cách phức tạp của vấn đề liên quan đến nhân vật này. Vì, thật vậy, nó có thể đưa đến những tranh luận, điều này không phải là không bổ ích, nhưng đó không phải là mục đích của chuổi suy tư này, có lẽ sẽ có dịp bàn đến ở một nơi khác.

Vậy, trong bài này, ta sẽ bước vào sách Xuất Hành, quyển sách thứ hai của bộ Thánh Kinh, và cũng là quyển thứ hai trong bộ Luật Mô-sê (tiếng do thái gọi là Tora, bộ sách quan trọng nhất của Do Thái giáo: sách Sáng thế, sách Xuất hành, sách Lê-vi, sách Dân số và sách Ðệ nhị luật).

Xuất Hành, sự kiện nền tảng Sự kiện Xuất Hành khỏi Ai-cập là một mắt xích vô cùng quan trọng trong lịch sử Dân Ít-ra-en (xin xem Xh 12,14.27.41-42). Nó được Mô-sê - hoặc những nhà làm luật khác nhân danh ông - sử dụng như là một điểm qui chiếu nền tảng cho luật lệ Do Thái giáo (Xh 20,1; 23,15; 34,18; Ðnl 5,6; v.v.); và các ngôn sứ cũng nhắc lại nhiều lần để khiển trách hoặc nhắc nhỡ Dân ăn năn hối cải quay về với Thiên Chúa (xin xem Hs 11,1; 12,10; Am 2,10; 3,1; Mk 6,4; v.v.).

Cuộc Xuất Hành này được kể trong toàn bộ quyển sách thứ hai, gồm 40 chương. Sách bắt đầu với sự phát triển của Dân bên đất Ai-cập, rồi việc họ trở thành nô lệ cho người Ai-cập, kế đến là cuộc giải thoát diệu kỳ và vĩ đại của Thiên Chúa, sau đó là cuộc hành trình 40 năm dài của họ trong sa mạc, và sách kết thúc với việc hoàn tất công trình Lều Tạm để thờ kính Gia-vê, theo lệnh của Người. Nói cách khác, Xuất Hành là một sự kiện thuần tôn giáo, mạc khải về kỳ công siêu việt của Đức Chúa đã làm cho Dân Ít-ra-en, theo niềm tin của họ.

Tuy nhiên, ngay trong chính sự kiện quan trọng đó, ta cũng tìm thấy một chi tiết dù rất nhỏ nhưng có lẽ không ít quan trọng, liên quan đến một trọng tội chống lại Thiên Chúa có dính líu tới vàng bạc: chuyện con bê bằng vàng.

Ðể thấy được hết cái hay của vấn đề, và đọc được mối liên hệ của trọng tội này với việc sử dụng của cải vật chất, ta cần phải theo dõi câu chuyện cho đến tận ngọn ngành của nó. Vâng, phải bắt đầu từ đất Ai-cập.

Dân lâm cảnh khổ, Chúa phái Mô-sê

Sách Xuất hành, ở những dòng đầu, kể cho ta rằng: Con cái Ít-ra-en sinh sôi nảy nở, nên đông đúc và ngày càng hùng mạnh: họ lan tràn khắp xứ (Xh 1,7). Ðiều này đã làm cho một vị tân hoàng đế Ai-cập thời đó e ngại và đó là một lý do khiến ông ta ra lệnh biến dân này làm nô lệ cho người Ai-cập để xây dựng những công trình và thành quách cho Pha-ra-ô (Xh 1,8-14). Tiếp đến là một lệnh truyền giết tất cả các nam nhi sơ sinh của người Híp-ri ngay từ lúc vừa lọt lòng mẹ (Xh 1,15-22), tính cách lịch sử của lệnh truyền này rất yếu vì dường như chỉ có Thánh Kinh ghi lại mà thôi.

Trong bối cảnh đó, Mô-sê khóc chào đời, đã được một vị Công chúa Ai-cập nhận làm con nuôi, được nuôi dưỡng và dạy dỗ trong triều đình Ai-cập; sau vài năm được chính bà mẹ ruột chăm sóc như một người vú nuôi (xin xem Xh 2,1-10). Chính ông sẽ là người được Thiên Chúa chọn để thực hiện công cuộc giải thoát Dân và dẫn dắt họ trong suốt 40 năm trời trong sa mạc theo lệnh của Thiên Chúa (về câu chuyện rất dài này, xin xem Xh 3tt).

Trong trình thuật về cuộc giải thoát Dân khỏi ách nộ lệ cho người Ai-cập, đã có một cuộc tỉ thí giữa quyền năng của Thiên Chúa, thực hiện bởi ông Mô-sê, và các thầy phù thủy Ai-cập về các dấu lạ như gậy biến thành rắn và nuớc biến thành máu (Xh 7,8-25); sau đó là các đại nạn như ếch nhái lan tràn, muỗi mòng, ruồi nhặng, ôn dịch, ung nhọt, mưa đá và cảnh tối tăm (Xh 7,26 - 10,29); sau cùng, là một tai ương khủng khiếp giáng xuống dân Ai-cập: các con đầu lòng của họ phải chết (xin xem Xh 11,1-10; 12,29-34). Với 10 tai ương đó, Pha-ra-ô đã phải để cho Dân Ít-ra-en ra đi.

Không ra đi tay trắng

Trong câu chuyện dài này, một chi tiết thú vị đối với chủ đề của chúng ta: Đức Chúa phán bảo ông Mô-sê rằng hãy nói cho dân nghe: Ðàn ông thì hỏi anh hàng xóm, đàn bà thì hỏi chị láng giềng, lấy những đồ bạc và đồ vàng (Xh 11,2) và rồi Con cái Ít-ra-en đã làm theo lời ông Mô-sê; họ đã xin người Ai-cập những đồ bạc, đồ vàng và áo xống. Đức Chúa cho dân được cảm tình của người Ai-cập, họ làm như lời dân Ít-ra-en xin, và dân đã tước đoạt của người Ai-cập (Xh 12,35-36). Thật đáng ngạc nhiên, và ta sẽ phải tự hỏi rằng tại sao một chi tiết như thế lại được nhắc đến trong trình thuật này. Một mạc khải quan trọng về niềm tin vào Thiên Chúa Quyền Năng Tuyệt Ðối lại được các soạn giả Sách Thánh chen vào một mệnh lệnh rất tầm thường như vậy trong chính miệng Thiên Chúa, phải hiểu làm sao đây?

Ta có thể hiểu theo ba lý do sau đây. Trước hết, sự giàu có vật chất luôn được gắn chặt với chúc lành của Thiên Chúa: đó như là một dấu chỉ rằng Thiên Chúa đồng hành với những ai người muốn chúc lành, như ta đã có dịp thấy nơi các bài trước. Thứ đến, dường như của cải vật chật là một chủ đề gắn chặt với cuộc sống cụ thể và hàng ngày của con người, đến nỗi các soạn giả Sách Thánh, vô tình hay hữu ý, không thể bỏ quên nó cho dù là trong một trình thuật thánh như cuộc Xuất Hành. Và lý do sau cùng sẽ cho thấy một điều lý thú, khi ta nhận ra chi tiết này, được đặt ở đây, có liên hệ đáng kể với chủ đề của bài này: chuyện con bê bằng vàng, một tội phạm chống lại Thiên Chúa.

Vâng, với vụ tước đoạt của cải người Ai-cập đó, Dân đã chiếm hữu một số lượng vàng bạc đáng kể. Chỉ với một đôi con số theo bảng kết toán công trình xây dựng Lều Tạm, vào cuối sách Xuất hành, ta có thể hình dung ra sự giàu có của họ: vàng: 870 Kg và 220 lượng; bạc: 3000 Kg và 530 lượng (Xh 38,21-31).

Trở lại thời điểm xuất hành khỏi Ai-cập, ngay sau biến cố các con đầu lòng của người Ai-cập bị chết, ta còn nghe Sách Thánh kể rằng: Ðang đêm nhà vua triệu ông Mô-sê và ông A-ha-ron đến và bảo: Cả các ngươi lẫn con cái Ít-ra-en, đứng lên, đi ra, không được ở giữa dân ta nữa! Ði mà thờ phượng Đức Chúa như các ngươi đã nói! Cả chiên cừu, bò bê của các ngươi, cũng hãy đem đi như các ngươi đã nói. Ði đi và cầu phúc cho ta nữa (Xh 12,31-32; để hiểu rõ tại sao Pha-ra-ô lại nói như vậy, xin xem thêm Xh 10,24-26).

Quả vậy, con cái Ít-ra-en rời khỏi Ai-cập với sự giàu có về vàng bạc và gia súc. Nhưng đó không phải là một cuộc cướp bóc của người Ai-cập; trái lại, có lẽ nên hiểu rằng đó chính là công lao của hàng trăm năm làm nô lệ cho người Ai-cập, đó là phần công sức của họ đáng được hưởng. Ỏ đây, có một sự tương đồng nào đó với trường hợp giữa Gia-cóp và La-ban mà ta đã nói trong bài trước. Vì, thật vậy, có lẽ không phải vô tình (và chắc là còn nhiều ý nghĩa khác nữa) mà sách Xuất hành, trong khi kể về cuộc nhổ trại lên đường của Dân khi được lệnh rời đất Ai-cập, đã thêm một chi tiết nhỏ: Thời gian con cái Ít-ra-en ở Ai-cập là bốn trăm ba mươi năm (Xh 12,40).

Giữa sa mạc, nhưng không thiếu của ăn

Với cuộc hành trình dài 40 năm trong vùng sa mạc, số lương thực thực phẩm họ mang theo được sẽ chẳng đáng là bao, và cũng chẳng bao lâu sẽ cạn kiệt. Và, một ngày kia, họ đã chẳng còn gì để có thể làm nguôi cơn đói, cho dù trong tay họ có khá nhiều vàng bạc. Họ đã kêu trách ông Mô-sê, kêu trách Thiên Chúa (xin xem Xh 16,2-3). Rồi Thiên Chúa đã ban cho họ lương thực: man-na, có lẽ là một thứ tiết chất của các loài côn trùng nơi các bụi cây mà dân du mục trong vùng đã biết dùng làm thực phẩm (mùa của nó khoảng tháng 5 - 6 hàng năm, trong vùng sa mạc Xi-nai); và chim cút, có lẽ là các con kiệt sức nơi các loài chim di trú rơi xuống khi ngang qua vùng hoang mạc này (xin xem Xh 16, 4-34).

Chương thứ 16 của sách kết thúc: Con cái Ít-ra-en đã ăn man-na suốt bốn mươi năm, cho đến khi họ tới đất định cư; họ đã ăn man-na cho đến khi tới ranh giới đất Ca-na-an (Xh 16,35). Ta có thể nói, họ đã có được một sự bảo đảm về lương thực, họ không còn phải lo lắng về việc này, trong chuổi ngày hành trình trong sa mạc. Và, vì thế, dường như họ đã nghĩ rằng họ giàu có với của cải vàng bạc họ có trong tay. Ðó, có lẽ, là một trong những lý do khiến họ phạm lỗi lầm nghiêm trọng qua vụ con bê bằng vàng.

Vàng dư bạc thừa, lại dùng không phải

Khi họ đến núi Xi-nai, một mình ông Mô-sê đã leo lên ngọn núi rực lửa, theo lệnh của Thiên Chúa, để nhận lãnh hai tấm Bia Ðá có khắc ghi Lề Luật, Mười điều răn (Xh 24,12-18; 31,18). Về phần Dân, vì đợi lâu quá mà không thấy ông Mô-sê trở xuống, và nghĩ rằng ông đã bị chết thiêu trên đó, nên họ đã đề nghị với ông A-ha-ron: Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Mô-sê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai-cập (Xh 32,1). Với vàng bạc họ tự nguyện đóng góp, ông A-ha-ron đã đúc thành một con bê bằng vàng cho họ (xin xem Xh 32,2-4a). Rồi họ đã thờ lạy và dâng lễ kính Gia-vê qua ngẫu tượng con bê đó. Họ tự nói rằng: Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập (Xh 32,4b; xin xem 32,5-6).

Vâng, họ cần có một vị thần để tôn thờ, một vị thần có hình hài rõ ràng theo như tưởng tượng của họ, hình một con bê - vốn là một trong những biểu tượng thần thiêng của các dân tộc sống định cư ở Ðông Phương (xin xem thêm 1V 12,28) -, và là một con bê bằng vàng - vàng, một kim loại quí, theo cách nhìn của người đời, có giá trị cao và là biểu tượng của sự giàu có vật chất, ai sở hữu nhiều vàng sẽ dễ dàng có nhiều quyền lực trong tay. Việc đúc tuợng thờ như vậy là điều mà Thiên Chúa đã cấm họ (xin xem Xh 20,1-6). Vì Người là Thiên Chúa vô hình và đầy quyền năng, là Đức Chúa - GIA-VÊ -, tên của Người gắn liền với việc Người thực hiện qua công trình cứu độ.

Chính vì vậy mà ông Mô-sê đã nỗi giận đến mức đập vỡ hai tấm Bia Lề Luật do chính Thiên Chúa ban cho, khi ông từ trên núi xuống và nhìn thấy điều sai trái họ đang làm (xin xem Xh 32,15-19). Ông đã lấy con bê vàng họ đúc ra đốt đi, tán nhuyễn ra, rắc lên mặt nước, rồi bắt con cái Ít-ra-en uống (Xh 32,20). Thái độ giận dữ và cách làm này của ông Mô-sê, theo một số nhà chuyên môn, muốn nói rằng: hành động thờ con bê bằng vàng của họ sẽ là sự kết án gắn chặt với xương thịt của họ. Qua sự lạm dụng và sử dụng của cải sai mục đích như vậy, họ không chỉ đã bị mất vàng bạc cho một điều chẳng ích lợi chút nào, vì nó chẳng thể cứu được họ; mà hơn nữa, một khi họ đã phải uống thứ nước có chứa bột vàng đó, thì chẳng mấy chốc, nó chỉ có thể trở thành một thứ chất thải của cơ thể họ mà thôi. Giá trị của vàng bạc và hình tượng con bê mà họ muốn tôn thờ, thay vào chỗ của Thiên Chúa, hoá ra chỉ đáng có thế. Nó hoàn toàn mất hết giá trị khi đối diện với Thiên Chúa Quyền Năng, Thiên Chúa của họ, Ðấng đã giải thoát và đưa họ lên từ Ai-cập.

Bài học về dùng của sai lầm

Dân Ít-ra-en đã bị sa vào cạm bẩy của sự giàu có vật chất, thay vì sử dụng nó để xây dựng công trình thờ phượng Thiên Chúa (như họ sẽ dùng số vàng bạc góp được để đóng góp vào công trình Lều Tạm ít lâu sau ,như ta đã nhắc tới trên kia), thay vì dùng nó để làm nhiều điều hữu ích khác cho đồng loại cũng như cho bản thân (như ta đã thấy nơi các vị tổ phụ), họ đã dùng vàng bạc họ có mà làm chính điều Thiên Chúa tuyệt đối cấm: đúc ngẫu tượng để tôn thờ, bắt chước các dân khác. Ðó là cấm kỵ đầu tiên của Mười Ðiều Răn (xin xem Xh 20,1-6; 34,17; Ðnl 5,6-8). Họ đã phạm tội chống lại Thiên Chúa.

Cách này hay cách khác, lỗi lầm thuộc loại này không phải hoàn toàn xa lạ đối với mỗi chúng ta, những con người đầy yếu đuối. Vậy, thiết tưởng, kinh nghiệm vấp ngã này của Dân sẽ là một nhắc nhỡ hữu ích cho mỗi người trong việc sử dụng sự giàu có của mình.





An Thụ




Bài 08

Của Cải Trong Kinh Thánh

Quan Hệ Vật Chất Trong Luật Môsê

Trong bài trước bộ Luật Mô-sê này đã được nhắc tới, bài này sẽ tiếp tục đào sâu hơn về nó, nhưng sẽ không dừng lại lâu. Ðể tiếp tục nói về những tiêu cực trong việc sử dụng của cải vật chất mà Thánh Kinh đề cập tới, ta sẽ lượt qua vài chi tiết chọn lựa trong bộ Luật này hầu có một cái nhìn hợp đạo đức hơn về tương quan vật chất trong xã hội.

I. ÐÔI NÉT VỀ BỘ LUẬT

1. Những quy định cho một dân định cư

Bộ Tora này chắc chắn đã được soạn thảo rất muộn thời so với nhà làm luật mà tên của ông được gán cho nó, Luật Mô-sê. Thật vậy, các quy định trong đó nhằm mục đích giúp điều hành một xã hội của một dân tộc định cư (như ta sẽ thấy qua các loại quy định luật pháp trong phần mô tả bộ Luật dưới đây); trong khi đó, ông Mô-sê đã qua đời khi Dân còn hành trình trong sa mạc (Ðnl 34,1-4), như một dân du mục. Sau ông, Dân đã được tiếp tục dẫn dắt bởi ông Giô-suê để tiến vào chiếm lĩnh Ðất Hứa và định cư ở đó (Ds 27,15-23; Ðnl 30,1-8; 34,9; Gs 1,1-4 và tiếp theo). Và một khi Dân đã trở thành một dân định cư, một bộ luật như thế mới có chỗ ứng dụng.

2. Một bộ Luật Thánh dạy về yêu thương

Bộ Luật Mô-sê được trải dài, với nhiều điều được lặp lại, trong bốn sách: Xuất hành (Xh), Lê-vi (Lv), Dân số (Ds) và Ðệ nhị luật (Ðnl). Trong đó, chủ yếu là những luật thánh liên quan đến việc thờ kính Đức Chúa, được coi là do chính Thiên Chúa ban hành qua các thừa tác viên có nhiệm vụ lãnh đạo Dân Người, đặc biệt là ông Mô-sê.

Song song với điểm nhấn thứ nhất là những luật điều liên quan đến việc thờ kính Chúa, ta gặp thấy một điểm nhấn thứ hai không kém quan trọng: công bằng xã hội. Ðòi hỏi thứ hai này được xem như một hệ luận trực tiếp của điểm thứ nhất. Quả vậy, sau này trong Tân Ước, chính Chúa Giê-su đã tóm tắt toàn bộ Lề Luật (tức là Luật Mô-sê) thành hai điều không thể tách rời nhau, đó là: Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi và ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Mt 22,37.39; song song Mc 12,29-31). Thực ra, hai điều nền tảng này, dường như, đã được các luật sĩ Do Thái biết đến, như ta thấy qua câu trả lời tương tự của nhà thông luật nọ, khi ông đáp lại câu hỏi của Ðức Giê-su rằng: Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?, ông ấy đáp: Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình (Lc 10,27-28). Ðó là hai mặt của cùng một hành vi thờ kính Đức Chúa: mến Chúa, yêu người.

3. Một đan kết giữa luật tôn giáo và luật xã hội

Chính vì vậy, ta thấy bên cạnh và song song với các điều luật thánh có những điều luật xã hội. Các điều luật thánh như các luật về nơi thờ phượng (1), luật về nghi thức các lễ tế (2), luật về việc tấn phong tư tế (3), luật liên quan đến cái thanh sạch và cái ô uế (4), luật về sự thánh thiện (5), luật về ngày Sa-bát (6), luật về bàn thờ (7), qui chế các thầy Lê-vi (8), chỉ thị về việc phân chia chiến lợi phẩm và đất đai (9), quy định về các ngày đại lễ (10), v.v. Và những điều luật xã hội như các quy định về việc dâng cúng vào Ðền Thờ (11), về việc đóng thuế thập phân (12), về việc đóng thuế thân (13), luật về Năm Sa-bát (14) và Năm Toàn Xá (15), luật về việc chuộc con đầu lòng (16), chỉ thị về việc chuộc lại đất đai, nhà cửa và người (17), luật về người nô lệ (18), luật về việc xâm phạm cơ thể người khác (19), về việc xâm phạm tài sản vật chất của người khác (20), luật liên quan đến công lý và công bằng (21), luật bồi hoàn (22), quy định về gia tài cho con gái (23), về gia nghiệp của phụ nữ có chồng (24), v.v. Nói chung, đó là một bộ luật rất phức tạp xen lẫn quyền đạo với quyền đời, theo tinh thần của chế độ Thần trị. Ðó là đôi nét chung về bộ Luật. Nhưng phía sau những quy định đó ta có thể thấy gì?

II. CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG LÒNG DÂN CHÚA

Qua mặt nổi của các điều quy định của bộ Luật như vậy; lồng phía sau chúng, ta có thể đọc được đôi nét về vấn đề đạo đức xã hội của cộng đồng Dân Chúa. Vì, theo một tiến trình bình thường, luật lệ được soạn ra khởi đi từ kinh nghiệm về những vấn đề cụ thể diễn ra trong xã hội và những hệ luận có thể có của chúng (thiết tưởng không cần phải giải thích thêm về điều này). Vậy, để chỉ ra một số vấn đề xã hội diễn ra trong lòng Dân Chúa thời đó, ẩn sau những qui định được liệt kê ở trên, người viết chỉ xin gợi một vài điểm chọn lựa, làm ví dụ. Ðó là những điều liên quan trực tiếp đến chủ đề: sai phạm trong việc sử dụng của cải vật chất khiến nền công bằng xã hội không còn được tôn trọng. Thực vậy, khởi đi từ sự kiện là có những bất công xã hội, các luật lệ liên quan được thiết lập nhằm ngăn cấm hoặc hạn chế chúng

Như một ví dụ về cách đọc Thánh Kinh liên quan đến chủ đề của chúng ta (theo cách riêng của bản thân), người viết chỉ xin bàn về một điểm mà thôi, đó là khía cạnh công bằng xã hội của bộ Luật. Ðiều này sẽ được thực hiện trên hai đoạn trích ngắn: Xh 22,20-26 và Xh 23,1-9. Sự chọn lựa này có liên quan đến những vấn đề sẽ được bàn đến trong các bài sau về sự khiển trách của các ngôn sứ đối với Dân, huấn giáo của các nhà khôn ngoan, và nhất là các lời dạy của chính Chúa Giê-su.

1.Thân phận của những người cô thế cô thân:

Nơi đoạn trích thứ nhất, ta đọc thấy: Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập. Mẹ goá con côi, các ngươi không được ức hiếp. Nếu các ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu. Cơn giận Ta sẽ bốc lên, Ta sẽ cho gươm chém giết các ngươi: thế là vợ các ngươi sẽ thành goá bụa, và con các ngươi sẽ thành côi cút.

Nếu ngươi cho một người trong dân Ta, một người nghèo ở với ngươi vay tiền, thì ngươi không được xử với nó như chủ nợ, không được bắt nó trả lãi.

Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn. Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân; nó sẽ lấy gì mà ngủ? Nó mà kêu cứu Ta, Ta sẽ nghe nó, vì Ta vốn nhân từ. (Xh 22,20-26)

- Họ bị ruồng rẫy và đối xử bất công

Phía sau các lời đó, ta có thể nhận ra rằng đã có một thái độ và hành vi đáng khiển trách trong lòng xã hội dân ít-ra-en thời đó: sự ức hiếp, hay đúng hơn là sự ruồng rẩy và đẩy ra bên lề xã hội, những người vốn đã mất chỗ nương dựa, theo quan hệ xã hội bình thường: các bà goá và trẻ mồ côi là những người đã mất chồng, mất cha; những người ngoại kiều là những người đã mất quê hương. Lẽ ra, họ phải đáng được thương xót và quan tâm nhiều hơn bởi cộng đồng nơi họ đang trú ngụ thì, trái lại, họ đã bị hất hủi và đối xử bất công, nhất là trong các vụ kiện cáo ở công đường. Ðiều này, có lẽ đã trở nên rất phổ biến trong lòng xã hội dân Ít-ra-en, đến nỗi chính Chúa Giê-su, vào thời Ngài, đã sử dụng chính hình ảnh này trong một dụ ngôn - hình ảnh một bà goá nghèo kêu cầu một vị quan toà cho vụ kiện của bà - để nói về việc kiên trì cầu nguyện (xin xem Lc 18,1-8).

Ðó cũng chính là hình ảnh của người nghèo nói chung: những người không đủ ăn đủ mặc, túng thiếu về mặt vật chất. Ðôi khi họ phải bán sức lao động hoặc bán chính bản thân làm nô lệ để có cái ăn cái mặc tối thiểu. Lại nữa, có khi họ phải lâm vào cảnh túng ngặt đến nỗi phải đi vay đi mượn. Và, trong hoàn cảnh đó, đã có những người lợi dụng sự thất thế sa cơ đó để cho vay lấy lãi.

- Họ là những người cùng khổ

Có một điều, có lẽ, cần phải giải thích thêm trong đoạn văn này, đó là việc trả lại áo choàng đã lấy làm đồ cầm. Theo các nhà chú giải, những người Ít-ra-en nghèo thường chỉ có một tấm áo choàng to vừa dùng làm áo che thân vào ban ngày và vừa làm cái túi ngủ vào ban đêm lúc trời trở nên rất lạnh, trong các vùng sa mạc, ngược lại với cái nóng khủng khiếp ban ngày. Những người mà đã phải cầm cố đến thứ vật dụng thiết yếu như thế (thực ra, nó chẳng đáng giá bao nhiêu) vốn là những người đã đi đến cùng đường của sự nghèo khổ. Vì một lý do nào đó thực sự sống còn, họ phải cầm cố đến mảnh áo choàng của mình. Ðối với họ, lúc đó, điều quan trọng chỉ đơn thuần là có chút gì để sống và tiếp tục tồn tại. Ðiều này chẳng khác tình trạng của những người ăn xin độ nhật (cho bản thân họ và có thể gia đình họ nữa). Thảm thay! Và luật của Thiên Chúa đã dự trù cho họ một cơ hội để có thể tiếp tục tồn tại: được quyền nhận lại chiếc áo choàng để có cái đắp mà ngủ ban đêm, nhưng ẩn sau điều đó, ta có thể hiểu là họ lại có cơ hội cầm cố nó vào ngày hôm sau, khi cần, để lại có chút gì mà sinh sống. Thiên Chúa đã không quên họ cùng với cảnh cơ cực của họ. Những qui định loại này được nhắc lại thường xuyên gần như một điệp khúc trong Thánh Kinh. Rồi, sau này, chính Chúa Giê-su, khi Ngài đến, đã công bố tin mừng cho họ : Phúc thay cho anh em là những người nghèo (Lc 6,20), ta sẽ có dịp bàn kỹ về sau.

2. Công lý trong quan hệ xã hội: tôn trọng tài sản chung

Ðoạn trích thứ hai dạy rằng: Ngươi không được phao tin đồn nhảm. Ðừng làm chứng gian mà tiếp tay với kẻ xấu. Ngươi không được hùa theo số đông để làm điều trái; trong một vụ kiện, ngươi không được ngả theo số đông mà làm chứng, khiến công lý bị sai lệch. Ngươi không được thiên vị người yếu thế khi họ có việc kiện tụng.

Nếu gặp bò hay lừa của kẻ thù đi lạc, ngươi phải dẫn nó về cho người ấy. Nếu thấy lừa của kẻ ghét ngươi quỵ ngã vì chở nặng, ngươi không được để mặc người ấy; phải giúp người ấy đỡ lừa dậy.

Ngươi không được làm thiệt hại đến quyền lợi của người nghèo cậy nhờ ngươi, khi họ có việc kiện tụng. Ngươi phải lánh xa điều gian dối. Ngươi không được giết kẻ vô tội và công chính, vì Ta không cho kẻ có tội được trắng án. Ngươi không được nhận quà hối lộ, vì quà hối lộ làm cho những kẻ sáng mắt hoá ra đui mù và làm hỏng việc của những người công chính.

Người ngoại kiều, các ngươi không được áp bức; chính các ngươi đã biết thân phận của người ngoại kiều, vì các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập. (Xh 23,1-9)

Bản văn này cho ta một bức tranh khác, phức tạp hơn, với những đòi hỏi khó hơn trong tương quan xã hội giữa những người không nghèo với nhau. Ðây cũng là một vấn đề của mọi thời đại. Ngoài chủ đề về người nghèo được lặp lại hầu như một điệp khúc, ta thấy xuất hiện chủ đề công lý: thiên vị và hối lộ. Ðiều đáng tiếc này, buồn thay, không hề vắng bóng trong xã hội con người, nó có mặt ở mọi thời và mọi nơi, từ cổ chí kim, từ đông sang tây. Thiết tưởng không cần phải giải thích thêm, chỉ xin đơn thuần nhắc đến hầu thấy rằng nó vốn là một điều xấu, rất xấu. Cần và nhất thiết phải tránh.

Có một điểm mà bộ Luật đã đề cập đến cần được lưu ý: một đòi hỏi về việc giúp đỡ kẻ thù ngươi và kẻ ghét ngươi khi họ gặp khó khăn, cụ thể hơn liên quan đến gia súc của họ: bò và lừa. Ở đây, thấy có dấu vết của một nền văn hóa du mục còn lưu lại. Vì đối với những dân tộc loại này, gia súc là tài sản quan trọng hàng đầu. Do đó, việc dắt trả cho khổ chủ những gia súc đi lạc chính là trả lại cho người ấy của cải đã bị thất lạc. Hiển nhiên, không được phép giữ lấy làm của riêng, nhưng đòi phải đem trả nó về cho người chủ bị mất. Ðiều này, ám chỉ trở lại tội xâm phạm tài sản của người khác theo tinh thần của Mười Ðiều Răn. Hơn nữa, có lẽ, phải hiểu nó vốn là của cải, là tài sản của cả bộ tộc, của toàn dân. Và, người ta không được phép để thất thoát của cải chung, vốn là thứ gắn liền với chúc lành của Thiên Chúa. Vì, giả thiết rằng, con bò hoặc con lừa đó sẽ có nguy cơ chết trôi chết nổi do thiếu chăm sóc của chủ, hoặc phải kiệt sức do mang quá nặng (như đòi hỏi phải giúp người ghét ngươi đỡ lừa chở quá nặng của họ dậy). Nói chung lại, mọi tài sản là của cả dân tộc, do Thiên Chúa ban cho - nó thuộc về mỗi người và về toàn dân - cần phải tôn trọng.

III. BÀI HỌC TỪ NHỮNG ÐIỀU TIÊU CỰC

Nhìn chung, qua các quy định về các mối quan hệ xã hội nêu trên, ta thấy bàng bạc trong bộ Luật một hậu cảnh phức tạp về những vi phạm nền công lý và sự công bằng là điều đi ngược lại tinh thần đạo lý của một dân tộc nói chung, và Dân Chúa nói riêng. Ðiều này sẽ là một trong những chủ đề các ngôn sứ quan tâm và lên tiếng phản kháng mạnh mẽ. Vì nó không chỉ đụng chạm tới các vấn đề của xã hội con người nhưng, quan trọng hơn, đụng tới nền tảng của niềm tin vào Thiên Chúa. Ðó sẽ là chủ đề của bài tiếp theo bàn về sự áp bức người nghèo liên quan đến việc thu tích của cải vật chất.

Thiết tưởng, ít điều trên có thể gợi ý, cho ai muốn, suy nghĩ về thái độ và thực hành trong tương quan vật chất với người chung quanh và trong xã hội.

CHÚ THÍCH

(1) Xh 25 - 27; 35 - 38; Ðnl 12,2-12

(2) Lv 1 - 7; Ds 28 - 29; Ðnl 12,12-28

(3) Xh 29,22-30; Lv 8 - 10

(4) Lv 11-16; Ðnl 14,3-21

(5) Lv 17 - 24

(6) Xh 23,12; 31,12-17; 35,1-3

(7) Xh 20,22-26

(8) Ds 1,47-53; 18,21-24; 351-8; Ðnl 10,6-9; 18,1-8

(9) Ds 31 - 36

(10) Xh 12,1-20; 34,22; Lv 23,15-21.33-43; Ðnl 16,1-17

(11) Ds 18,8-19

(12) Ds 18,25-32; Ðnl 14,22-27.28-29; 26,12-15

(13) Xh 30,11-16

(14) Xh 23,10-11; Lv 25,1-7.18-22; Ðnl 15,1-11

(15) Lv 25,8-17

(16) Xh 13,11-16; Ðnl 15,19tt

(17) Lv 25,23-34; 35-55; 27,1-34

(18) Xh 21,1-11; Ðnl 15,12-18

(19) Xh 21,12-17.18-36; 22,15-16

(20) Xh 21,37 - 22,14

(21) Xh 22,20-26; 23,1-9

(22) Ds 5,5-9

(23) Ds 27,1-11

(24) Ds 36





An Thụ




Bài 09

Của Cải Trong Kinh Thánh

Các Ngôn Sứ Với Sự Phản Kháng Chống Lại Bất Công Xã Hội

Trước khi quay lại tìm hiểu về cung cách sử dụng của cải vật chất nơi vài nhân vật khác như ông Tô-bít và một vài vị vua, để tiếp tục tìm hiểu về những vấn đề tiêu cực liên quan đến việc sử dụng của cải vật chất, xin nói thêm đôi điều về những bất công xã hội ngang qua các nhắc nhở của các ngôn sứ. Các ngài là những vị đã lên tiếng rất mạnh chống lại các sai phạm loại này.

Một lời về các ngôn sứ

Các ngôn sứ vốn là những vị nói nhân danh Thiên Chúa, được Thiên Chúa chọn và sai đến giữa Dân để chuyển đến họ ý định của Người. Các ngài nói về Thiên Chúa và về lòng thương xót của Người, nhằm kêu gọi Dân quay đầu trở lại với Người mà từ bỏ những tội nghịch của họ chống lại Thiên Chúa và chống lại đồng loại. Các ngài đã sử dụng lời nói hoặc các hành động đầy hàm ý để công bố những gì Thiên Chúa truyền cho họ. Nói chung, các ngài là những sứ giả Thiên Chúa gởi đến để nhắc nhở Dân đi đứng trong đường lối của Người.

Trong số các vị, ta thấy đặc biệt A-mốt, Hô-sê và I-sai-a, là những vị đã có những lời rất nặng khiển trách về các bất công trong xã hội: bất công đối với Thiên Chúa, bất công đối với đồng loại. Các điều khiển trách này, thực ra, không có gì khó hiểu nên chỉ xin liệt kê tóm tắt một số điều đáng lưu ý nhằm cho thấy những vấn đề xã hội gì đã diễn ra vào thời đó hầu rút được bài học liên quan đến việc sử dụng của cải. Các bất công đó thuộc về hai chiều kích: thứ nhất, bất công đối với Thiên Chúa; thứ hai, bất công xã hội, vốn là hậu quả của điều thứ nhất.

a.Bất công đối với Thiên Chúa:

Theo như giáo huấn nền tảng của Do Thái Giáo được tóm tắt trong ba điều đầu tiên trong số Mười Ðiều Răn: Đức Chúa, Thiên Chúa Duy Nhất, là Thiên Chúa độc nhất của Dân (xin xem Xh 20,1-6; Ðnl 5,6-10). Theo tinh thần của giáo huấn Thánh Kinh, việc tôn thờ Người, đúng hơn là tôn thờ chỉ một mình Người, và tuân giữ các điều Người truyền dạy trong Luật là một cách thế đối xử công chính đối với Người. Làm ngược lại, hoặc không làm như vậy, chính là đối xử bất công với Thiên Chúa. Ðó là điều mà các ngôn sứ đã lên tiếng mạnh mẽ khiển trách Dân Ít-ra-en.

Vấn đề tôn thờ ngẫu tượng và sùng bái sự giàu có như thần thánh vốn là điều thường thấy trong bộ Cựu Ước. Các ngôn sứ, nhất là Hô-sê, nhấn rất mạnh về điều này. Thực vậy, ngài đã kết án Dân đã bắt chước theo phong tục của người Ca-na-an (dân bản xứ, vốn theo truyền thống văn hoá định cư) mà thờ kính thần Ba-an, vị thần sản lực của một số dân định cư. Họ đã đúc ra các tượng thần bằng vàng hay bằng bạc để thờ kính. Ngôn sứ Hô-sê đã tuyên án: Xưa kia hễ Ép-ra-im lên tiếng là nó gây kinh hoàng, nó có một địa vị cao trong Ít-ra-en, nhưng vì mắc tội thờ Ba-an nên nó đã chết.

Giờ đây chúng phạm thêm tội lỗi: đúc cho mình những tượng bằng kim loại, lấy bạc làm ra những tượng thần như trí mình sáng chế. Tất cả những thứ đó đều là sản phẩm do tay thợ làm ra. Rồi chúng ngỏ lời với những thần đó, còn dâng hy lễ nữa. Chúng là người mà lại hôn kính những con bê. Bởi vậy, chúng chỉ như đám mây buổi sáng, như sương mai chóng tan, như vỏ trấu bị cuốn đi khỏi sân lúa, như làn khói toả từ ống thông hơi (Hs 13,1-3).

Và trước đó, cũng chính ngài đã lên tiếng: Ít-ra-en vốn là một cây nho sum sê, trái trăng thật dồi dào phong phú. Nhưng trái trăng càng nhiều, chúng càng dựng thêm các bàn thờ ngẫu tượng; đất nước càng giàu sang, chúng càng làm thêm những cột thần lộng lẫy. Chúng là thứ người lòng một dạ hai, rồi đây chúng sẽ phải đền tội; bàn thờ của chúng, chính Người sẽ đập tan, cột thờ của chúng, Người cũng sẽ phá đổ (Hs 10,1-2).

Còn ngôn sứ A-mốt khẳng định rõ rằng không phải là những lễ vật hy tế hay lễ vật toàn thiêu sẽ làm Thiên Chúa hài lòng, nhưng là sự công chính và công bằng xã hội. Ngài đã kêu gào rằng: Lễ lạc của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường; hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú (.) Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn (Am 5,21.24 ). Thật vậy, đã có quá nhiều bất công trong lòng xã hội Dân Chúa, đó là hệ quả của sự bất công đối với chính Thiên Chúa.

b. Bất công xã hội:

Ðây là một vấn đề của mọi thời và mọi nơi. Nguyên nhân của nó nằm ở chỗ: lòng tham của con người không đáy họ luôn muốn có nhiều của cải bạc vàng hơn hầu có thêm sự bảo đảm vật chất và nắm trong tay thêm nhiều quyền lực do sự giàu có vật chất có thể đem lại. Với ước muốn đó, nhiều khi người ta đã không ngần ngại chà đạp lên người khác (điều này hiển nhiên, có lẽ không cần giải thích thêm). Trong xã hội dân Ít-ra-en thời xưa, vấn đề này cũng tràn ngập, đến nỗi Thiên Chúa đã phải can thiệp qua sự lên tiếng của các ngôn sứ. Ta có thể tập hợp lại theo ba loại chính sau đây : vì ham lợi mà người ta không ngại thực hành việc cân non đong thiếu, vì tiền mà người ta chẳng từ việc bẻ quẹo công lý và sự thật, và vì muốn trục lợi mà người ta nhẫn tâm khai thác đồng loại.

- Cân gian đong lận

Vì muốn thu lợi nhiều hơn, hoặc vì một lý do nào khác, một số người không ngại dấn vào trong các hành động mờ ám. Ngay từ thời xa xưa, trong lòng Dân Chúa, những điều như thế đã diễn ra, như: cân già cân non, đấu lớn đấu nhỏ, thước thiếu thước thừa, v.v. nhằm làm sao có lợi hơn cho họ. Ta thấy các ngôn sứ đã vạch rõ những điều đó, ví dụ như các lời sau đây của ngôn sứ A-mốt: Các ngươi thầm nghĩ: Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa; bao giờ mới hết ngày sa-bát để ta bày thóc ra? Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm; ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ (Am 8,5); hay là lời chất vấn của ngôn sứ Mi-kha: Hỡi nòi gian ác, làm sao Ta chịu nổi những của cải chiếm được bằng dối gian, ê-pha thíêu hụt, xấu xa ghê tởm? Ta coi là liêm chính thế nào được những bàn cân gian trá, những túi đựng các quả cân gian? Hạng giàu có trong thành thì hung hãn, còn dân thành laị quen ăn gian nói dối, miệng hay nói lời lẽ gian tà (Mk 610-12).

- Bẻ quẹo công lý và sự thật

Ngôn sứ A-mốt đã vạch trần lòng dạ chai cứng của họ như là nguyên nhân của việc từ chối lắng nghe sự thật, đến nỗi nhân danh quyền lực của mình, họ đã ngăn cản những người khác thực hiện điều công chính, ngài trách: Xưa ta đã từng cho xuất hiện những ngôn xứ từ hàng con cái các ngươi, những na-dia từ lớp người trai tráng. Chẳng phải như vậy sao, hỡi con cái Ít-ra-en?- Sấm ngôn của Đức Chúa. Thế mà các ngươi đã bắt các na-dia uống rượu và ra lệnh cho các ngôn sứ: Các ông không được nói tiên tri! (Am 2,11-12).

Ngôn sứ I-sai-a đã than phiền về việc thiếu tôn trọng sự ngay thẳng và công lý của những người cầm cân nảy mực, họ không còn là những con người của sự trung tín nữa mà đã trở thành những tay đao phủ và những kẻ nổi loạn, ngài đã lên tiếng: Ðô thị vốn trung tín xưa kia sao nay lại trở thành con điếm? Ðô thị xưa kia vốn chính trực, vốn là nơi ngự trị của đức công minh, sao nay lại đầy lũ giết người? Bạc của ngươi đã biến thành gỉ sét, rượu ngon thì bị pha nước vào. Các thủ lãnh của các ngươi là những kẻ phản nghịch, đồng loã cùng trộm cướp. Tất cả bọn chúng đều thích ăn hối lộ, và chạy theo quà cáp. Chúng không phân xử công minh cho cô nhi, cũng chẳng quan tâm đến quyền lợi quả phụ (Is 1,21-23). Và cũng chính ngài đã mạnh mẽ kết án: Khốn thay những kẻ đặt ra các luật lệ bất công, những kẻ viết nên các chỉ thị áp bức, để cản người yếu hèn hưởng công lý, tước đoạt quyền lợi người nghèo khó trong dân tôi, để biến bà goá thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi. Các ngươi sẽ làm chi khi đến ngày trừng phạt, khi bão tố từ xa ập tới? Các ngươi sẽ chạy đến với ai mà xin giúp đỡ? Các ngươi sẽ để vinh hoa phú quí nơi đâu? (Is 10,1-3).

- Khai thác người nghèo

Ngôn sứ A-mốt đã nhấn rất mạnh trên lỗi phạm thật nghiêm trọng này của Triều đại phía Bắc (thuộc Vương quốc Ít-ra-en, phân biệt với Vương quốc Giu-đa ở phía Nam), đó là việc biến những người thấp cổ bé họng thành những món hàng hoá để buôn bán hay trao đổi với giá rẻ mạt. Ta đọc thấy: Đức Chúa phán thế này: vì tội của Ít-ra-en đã lên tới cực độ, Ta sẽ không rút lại bản án. Ví chúng bán người công chính để lấy tiền, bán kẻ nghèo khổ với giá một đôi giày. Vì chúng đạp đầu kẻ yếu thế xuống bùn đen và xô người khiêm hạ ra khỏi đường lộ (Am 2,6-7a). Vâng, những người nghèo đã bị khai thác không thương xót. Còn những kẻ khai thác đã thực hiện điều đó với một ý thức rõ rệt, như lời hạch tội cũng của vị ngôn sứ này: Hãy nghe đây hỡi những ai đàn áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. Các ngươi thầm nghĩ: Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa; bao giờ mới hết ngày sa-bát để ta bày thóc ra? (.) Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ; cả lúa nát gạo mục, ta cũng đem ra bán. (Am 8,4-6). Ðiều đáng trách hơn nữa, những người đó chính là những người đặt niềm tin vào Thiên Chúa và giữ luật tế tự rất kỹ, khiến ngôn sứ A-mốt đã trách cứ: Vì y phục của người ta cầm cố, chúng nằm lên trên, ngay bên mọi bàn thờ, và rượu của người nộp phạt, chúng đem uống tại đền thờ Thiên Chúa của chúng (Am 2,8). Họ làm như thể những lễ tế đó sẽ làm hài lòng Thiên Chúa. Nhưng không, trái lại thì có, như ta đã thấy cũng chính ngôn sứ A-mốt đã vạch rõ trong đoạn Am 5,21 trích trên kia. Và ngôn sứ I-sai-a cũng không thể im tiếng được trong việc này, ngài cũng đã lên án như ta thấy trong đoạn trích Is 10,1-3 ở trên.

Một xã hội bất bình đẳng

Song song với những tội như thế, và bên cạnh cảnh cùng khổ của những người nghèo thấp cổ bé họng mà ta đã có dịp thấy trong bài trước, các ngôn sứ còn mô tả một nét tương phản về một cuộc sống giàu sang trong nhung lụa của những kẻ trục lợi. Các ngài đã lên án điều đó như một bất bình đẳng nghiêm trọng trong xã hội. Như một ví dụ, ta lại có ở đây những lời của ngôn sứ A-mốt: Chúng nằm dài trên giường ngà, ngả ngớn trên trường kỷ, mà ăn những chiên non nhất bầy, những bê béo nhất chuồng. Chúng đàn hát nghêu ngao; như Ða-vít, chúng dùng nhạc cụ mà sáng tác. Chúng uống rượu cả bầu, xức dầu thơm hảo hạng, nhưng chẳng biết đau lòng trước cảnh nhà Giu-se sụp đổ! (Am 6,4-6).

Bất công xã hội, một điều cần phải chống!

Thiết tưởng bấy nhiêu cũng đủ để nói lên tình trạng xã hội thời các ngôn sứ và cũng đủ để cho thấy mặt tiêu cực do việc thu tích và sử dụng không đúng tiền của đem lại.

Một xã hội đầy bất công như thế hoàn toàn không phù hợp chút nào với tinh thần đạo lý và giáo huấn Thánh Kinh, đặc biệt nơi các ngôn sứ như ta vừa thấy, cần phải chống lại nó. Ðiều cần lưu ý, chống lại bất công xã hội không chỉ đơn thuần là đấu tranh chống lại các tiêu cực và phê phán những người thực hiện các điều đó nhưng, quan trọng hơn, trước hết mỗi người phải tự nhìn lại chính bản thân và lo để ý tránh các hành động có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra các loại bất công như thế.

Theo tinh thần của giáo huấn Thánh Kinh, những nguyên nhân của chúng là: khởi đi từ một lòng dạ không biết xót thương, cộng thêm với lòng tham lam không đáy - tiền của cũng như quyền lực -, và nhất là sự bất trung và bất chính đối với Thiên Chúa. Những nguyên nhân đó sẽ làm cho người ta dễ dàng bị cuốn hút vào các hành vi chà đạp người đồng loại và thực hành bất công xã hội, vô tình hay hữu ý.

Thánh Kinh đã cho ta những điển hình rõ nét về điều này qua sự can thiệp của các ngôn sứ liên quan đến các thực hành xã hội trong lòng Dân Chúa. Ðiều đó cho thấy một cái nhìn mang tính phê bình việc thu tích và sử dụng của cải vật chất không đúng mục đích, so với cái nhìn tích cực rằng sự giàu có là một chúc lành của Thiên Chúa mà ta đã có dịp bàn đến ở các bài trước. Ðây cũng là một điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn thánh kinh về vần đề này.

Khía cạnh tiêu cực về việc sử dụng của cải vật chất như trên chắc là không có gì khó hiểu đối với mỗi người và bài học rút ra từ đó cũng hiển nhiên. Việc đào sâu thêm vấn đề, có lẽ, không còn cần thiết. Vậy, ta sẽ trở lại tìm hiểu một nhân vật khác vừa giàu có vừa đạo đức, ông Tô-bít, để xem vị này đã làm gì với sự giàu có của mình, đó sẽ là chủ đề của bài tiếp theo.





An Thụ




Bài 10

Của Cải Trong Kinh Thánh

Tô-bít, Gương Mẫu Về Thực Hành Bố Thí

Sau khi đã đối diện với các vấn đề tiêu cực liên quan đến việc sử dụng của cải vật chất trong hai bài trước, ta lại có dịp gặp gỡ một nhân vật thú vị khác trong Thánh Kinh có một cung cách sử dụng tài sản khá độc đáo: ông Tô-bít, một người có tấm lòng vàng. Câu chuyện về ông nằm gọn trong quyển sách mà tên ông được lấy làm tựa, sách Tô-bít.

I. Ðôi nét về sách Tô-bít

Quyển sách này được xem là thuộc về thể loại văn chương hơn là lịch sử. Thật vậy, ta thấy rằng ông Tô-bít, thuộc dòng dõi Náp-ta- Li, đã sinh sống vào khoảng thế kỷ thứ 10 TCN, thời đất nước Ít-ra-en bị chia đôi sau khi vua Sa-Lô-Môn qua đời; ông bị đi đày sang xứ Át-sua cùng với thị tộc Náp-ta- Li, vào khoảng năm 734 TCN; còn con trai ông là Tô-bi-a, đã qua đời khoảng sau thời thành Ni-ni-vê bị phá hủy,gần năm 612 TCN.

Trong phụng vụ Ki-tô giáo, sách này thường được trích đọc trong nghi thức lễ cưới với lời nguyện mẫu mực của đôi tân hôn Tô-bi-a và Sa-ra. Ðó là một điểm nhấn quan trọng của sách. Ngoài ra, ta còn thấy hai chủ đề quan trọng khác, đó là: lòng nhiệt thành bố thí và việc chăm lo chôn cất đồng loại mà ông Tô-bít đã thực hiện.

Ðối với chủ đề của chuỗi suy tư này, xin chỉ bàn đến việc bố thí của ông Tô-bít nhằm rút thêm được một bài học nữa về việc sử dụng của cải vật chất.

II. Nhân vật Tô-bít

Ngay từ đầu quyển sách, ta nghe chính Tô-bít tự thuật rằng: ông là người ăn ở theo sự thật và lẽ ngay, ông đã từng rộng tay bố thí cho đồng bào ông là những người cùng đi lưu đày với ông tại Át-sua (xin xem Tb 1,3). Nhưng ta sẽ tự hỏi, ông cùng bị đi đày như mọi người thì làm sao ông đã có nhiều tiền của để bố thí cho những người anh em đó, ông đã làm gì để có của cải mà cho?

1) Người trung thành tuân giữ luật

Sách ghi lại rằng, từ khi còn ở quê nhà ông đã chăm lo giữ đúng theo luật Mô-sê. Không những ông giữ luật mà thôi mà hơn nữa ông tuân giữ tinh thần của luật và không bao giờ quên những người nghèo khổ: cô nhi, quả phụ và ngoại kiều (xin xem Tb 1,6-9).

Theo tự thuật của Tô-bít, trong khi ở xứ lưu đày ông vẫn luôn lo tuân giữ lề luật (Tb 1,10-11), nhờ thế Thiên Chúa đã thương đến ông và làm cho ông được lòng nhà vua Át-sua đương quyền, San-ma-ne-xe; vị vua này đã dùng ông cho một số dịch vụ của mình: ông là người mua sắm tất cả những gì cần dùng cho vua (Tb 1,12-13). Ðó là lý do tại sao ông không bị rơi vào cảnh cơ cực như những người đồng bào bị lưu đày cùng với ông. Ðể lo việc mua sắm cho vua, ông đã có dịp đi sang các xứ lân cận. Một trong những xứ ông đã đi qua, xứ Mê-đi, là nơi ông đã ký gởi cho một người anh em của ông,ông Ga-ba-ên, một số bạc đáng kể là 300 kg, (Tb 1,14). Trong thời gian tại chức đó, ông đã rộng tay bố thí cho đồng bào ông, như ông kể: Dưới thời vua San-ma-ne-xe, tôi đã rộng tay bố thí cho các anh em cùng một dòng máu với tôi. Cơm bánh của tôi, tôi cho người đói khát; quần áo của tôi, tôi cho kẻ trần truồng; nếu thấy ai trong số đồng bào tôi chết và bị quăng thây ra phía sau tường thành Ni-ni-vê, thì tôi chôn cất người đó. Nếu có ai bị vua Xan-khê-ríp [kế vị vua San-ma-ne-xe] giết chết (.), tôi cứ đi lấy trộm xác họ mà chôn (Tb 1,16-18). Ðiều sau cùng này là lý do khiến ông bị thất sủng, vua Xan-khê-ríp đã ra lệnh tìm bắt giết ông. Ông đã bỏ trốn và tất cả tài sản của ông đều bị tịch thu vào kho vua (Tb 1,20). Ông đã trở nên tay trắng, trừ số bạc còn gởi nơi nhà ông Ga-ba-ên mà sau này ông sẽ sai cậu con trai Tô-bi-a đi nhận về (1).

2) Người có tấm lòng cao thượng

Quả thật, ông có tấm lòng thương người đáng nể. Ta sẽ thấy, ngay khi còn lâm cảnh khó khăn sau khi vừa được tha án trở về nhà (2), nhân ngày lễ Các Tuần (3),ông đã được dọn cho một bửa ăn ngon, ông đã sai Tô-bi-a con trai ông và bảo: Con ơi, con hãy đi tìm trong số các anh em chúng ta bị đày ở Ni-ni-vê, một người nghèo hết lòng tưởng nhớ Thiên Chúa, rồi dẫn người ấy về đây cùng dùng bữa với cha. Này, cha đợi con cho đến khi con về (Tb 2,2). Dường như chẳng lúc nào ông quên những người nghèo khổ, ông luôn nghĩ và biết nghĩ về những người bất hạnh trong dân ông và tìm mọi dịp để đem lại cho họ chút niềm vui. Thật vậy, ngày đại lễ tôn giáo của dân tộc, đang sống trong cảnh lưu đày nơi đất khách, có mấy ai mà có được một bữa ăn cho đàng hoàng để mừng lễ, điều này lại càng vô vọng đối với những người nghèo; lại nữa, vì là dân bị lưu đày, họ cũng không có quyền tụ tập đông người, cho dù là ngày lễ. Ông đã thấu được nỗi lòng của dân ông và ông đã cố làm một chút gì có thể: sai đi mời một người đồng bào đồng đạo nghèo nào đó đến chia sẻ bữa cơm ngon mà ông có được. Quả là một cử chỉ rất đẹp và một tấm lòng cao thượng, một tấm lòng vàng. Vâng, sống đạo chính là như thế, không nhất thiết phải làm những điều to lớn vĩ đại. Tuy nhiên, một hành động như ông đã làm không hề nho nhoi chút nào.

3) Giáo huấn của Tô-bít

Một ngày nọ, ông đã nghĩ rằng mình sắp chết, nhớ tới số tài sản còn gởi bên xứ Mê-đi, ông gọi con trai đến để báo cho biết về số bạc đó và sai anh ta lo đi lấy về mà sử dụng, đó chính là thừa kế ông để lại cho cậu.

Ở đây, ta đọc thấy một điều độc đáo, lời dặn dò của ông với cậu con trai. Nó như là một lời trăn trối (4), và cũng là một bài giáo lý tóm gọn những điều thiết yếu trong lề luật. Ông đã dạy chúng cho con trai trước khi nói về số tài sản mà anh ta sẽ được hưởng. Ðó là một bài huấn giáo mở rộng, nó xoay quanh hai điểm cơ bản của lề luật, kính Chúa, yêu người, mà ta đã có dịp nhắc tới ở bài 8. Trong đó, ta có thể liệt kê ra những điều quan trọng sau đây:

Thảo kính cha mẹ - trung thành với Chúa qua việc tuân giữ trọn vẹn lề luật, bố thí cho người nghèo - cưới vợ trong dòng tộc nhưng không phải cưới vì ham vui - trả lương sòng phẳng và tức thì cho người làm công - cho người đói khát ăn uống, người trần truồng mặc - chăm chỉ nghe theo chỉ dẫn của những người khôn ngoan để học lấy sự khôn ngoan đến từ Thiên Chúa (xin xem Tb 4,3-19).

III. Việc thực hành bố thí

Liên quan trực tiếp đến điều chúng ta quan tâm, xin phân tích kỹ hơn về đề tài bố thí. Ta nghe ông dặn rằng: Con hãy dùng của cải bố thí cho tất cả những ai thực thi công chính, và khi bố thí, mắt con đừng có so đo. Ðối với ai nghèo khổ, con đừng ngoảnh mặt làm ngơ, để rồi đối với con, Thiên Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ. Tùy con có bao nhiêu, hãy cho bấy nhiêu; có nhiều thì cho nhiều, có ít thì đừng ngại cho ít. Như thế là con tích trữ vốn liếng vững chắc cho những ngày gian nan. Thật vậy, việc bố thí cứu cho khỏi chết và không để rơi vào cõi âm ty. Vì trước nhan Ðấng Tối Cao, của bố thí là một lễ vật quý giá cho những ai làm việc bố thí. (.) Hãy chia cơm sẻ áo cho người đói rách. Phàm là của dư thừa, con hãy lấy mà bố thí, và mắt con đừng có so đo trong việc bố thí của con. (Tb 4, 7-11.16). Qua mấy lời giáo huấn này, ta lưu ý ba điểm: tinh thần, cung cách và giá trị của việc thực hành bố thí.

1) Tinh thần của việc thực hành bố thí

Ðối với ai nghèo khổ, con đừng ngoảnh mặt làm ngơ. Ta có thể hiểu điều này theo cánh nói tính cực như sau: quan tâm và luôn quan tâm đến người anh em, đặc biệt là những người bất hạnh. Có lẽ, đó vừa là khởi điểm vừa là nền tảng cho việc thực hành bố thí, theo quan điểm của sách Tô-bít. Việc bố thí phải được thực hiện một cách tự nhiên như làhoa trái tất yếu của sự quan tâm đến đồng loại.

Theo cách nhìn của thần học tu đức và luân lý, cách thực hành như thế sẽ mang giá trị của một nhân đức. Có nghĩa là, người thực hành bố thí thực hiện nó như một thói quen, hay nói đúng hơn như một điều tốt cần thiết cho nhu cầu phát triển của đời sống nhân bản và thiêng liêng của bản thân (khi thực hành những hành vi này, ơn trợ giúp từ phía Thiên Chúa được kể là cần thiết, nhưng ta sẽ không bàn đến ở đây). Theo đó, sẽ không hề có chút khó khăn hoặc so đo nào trong khi làm việc này, cũng sẽ không hề có chút khó khăn nào khi thực hiện hành vi bố thí. Vì khi đó, việc bố thí đã trở nên như một thói quen làm điều thiện bẩm sinh của đương sự.

Ông Tô-bít, như được kể, đã thực hành như thế: với tinh thần quan tâm đến những người đồng bào và đồng đạo, việc thực hành bố thí đã trở nên một trong những cá tính của ông. Cũng với tinh thần đó, ông nhìn nhận nó như một điều thiện thiết yếu và ích lợi cho bản thân. Và ông đã không quên trao lại cho con trai ông như một phần tài sản thừa kế quan trọng (5).

Tóm lại, theo quan điểm của sách Tô-bít, việc bố thí hàm chứa và khởi đi từ một tinh thần yêu thương và quan tâm đến đồng loại trong niềm tin và lòng tín thác vào Thiên Chúa. Thiết tưởng, đây là một trong những điểm quan trọng mà chúng ta cần lưu ý khi thực hành nhân đức này.

2) Cung cách thực hành việc bố thí

Khi bố thí, mắt con đừng có so đo. Một khi việc thực hành bố thí đã trở nên một nhân đức đối với một người nào đó, nó sẽ không còn là đối tượng của một so đo tính toán. Tuy nhiên, phải hiểu sự so đo được nói ở đây theo một nghĩa khác hơn với sự cân nhắc chi li, tính hơn tính thiệt hoặc tính lợi tính hại khi làm việc bố thí. Có lẽ, nên hiểu là phải thực hiện việc này một cách tự nhiên và tự nguyện, như một nhân đức, tức là làm như tiếng lòng tự nhủ, trong từng trường hợp cụ thể. Không cần phải xét xem có nên cho hay không cho khi đối diện với người đang có nhu cầu, cũng không cần phải liệu xem cho như thế sẽ có ảnh hưởng gì đến bản thân hay không, ngay tức thì hoặc về sau. Nói cách khác, không cần phải vận dụng lý trí cho những cân nhắc tính toán, chỉ đơn thuần thực hiện theo tiếng lòng. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là phải cho tất cả hoặc cho theo nhu cầu không biết đâu là giới hạn cần thiết của người đồng loại mà, trước hết và trên hết, là cho theo khả năng cụ thể và có thể của bản thân ngay lúc đó và tại đó (Tuy nhiên, nếu người nào có thể làm hơn thế nữa thì càng tốt, có lẽ không cần phải giải thích thêm).

Thật vậy, ta còn nghe Tô-bít dặn Tô-bi-a rằng: Tùy con có bao nhiêu, hãy cho bấy nhiêu; có nhiều thì cho nhiều, có ít thì đừng ngại cho ít (.) Phàm là của dư thừa, con hãy lấy mà bố thí . Mới nghe qua câu sau cùng, có lẽ, ta sẽ tự bảo rằng có gì đáng giá cho lắm cái việc bố thí bằng của dư thừa. Vâng, có vẻ đúng như vậy. Nhưng, sự dư thừa đó sẽ được căn cứ vào đâu mà xác định? Thường tình, ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng người đời không mấy ai tự nhận là đã có đủ những thứ mình cần và mình muốn; lại nữa, một khi đã nhìn nhận rằng mình có đủ và có thừa, có mấy ai sẵn lòng chia sớt cho người đồng loại không so đo. Chính vì vậy mà trong xã hội luôn còn nhiều chuyện không ổn (điều này đã được nói tới trong hai bài trước). Vấn đề nằm ở đó. Thuộc về suy xét của mỗi người khi đối diện với những gì mình sở hữu. Xin nhường việc phán đoán cho quý độc giả.

3) Giá trị của việc thực hành bố thí

Giá trị của việc này mang, ít ra, hai chiều kích: tôn giáo và xã hội.

a. Về mặt tôn giáo, có lẽ, chỉ cần trích ra đây hai yếu tố: thứ nhất, hãy lo thực hành bố thí hầu Thiên Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ đối với ta trong cuộc sống, hôm nay cũng như mai hậu; và thứ hai, Vì trước nhan Ðấng Tối Cao, của bố thí là một lễ vật quý giá cho những ai làm việc bố thí . Ðể thấy rõ hơn vấn đề, ta sẽ nối kết nó với tinh thần của việc bố thí vừa nói trên kia. Nếu việc bố thí khởi đi từ tinh thần không làm ngơ trước cảnh khổ của người anh em, thì một trong những mục đích của nó là mong được chính Thiên Chúa đoái nhìn đến bản thân, nhất là trong cơn bỉ cực. Nói cách khác, thương xót để cũng được xót thương. Nhưng, đúng hơn phải nói được xót thương nên phải biết thương xót.

Thật vậy, mỗi người đã được chính Thiên Chúa xót thương và quan tâm chăm sóc, theo cách nhìn của niềm tin. Theo niềm tin do thái giáo, Dân Chúa, cũng như mỗi thành viên, luôn được chính Thiên Chúa quan tâm chăm sóc. Các ngôn sứ, nhất là I-sai-a, đã luôn nhắc lại điều này (xin xem Is 41,8-20; 43,1-7; v.v.). Ðiều này cũng luôn đúng cho niềm tin ki-tô giáo. Như vậy, việc thực hành bố thí hàm chứa một hành vi kép: quan tâm đến đồng loại vốn là kết quả của việc nhìn nhận chủ quyền của Thiên Chúa trên bản thân cũng như trên mọi sự. Ðó là giá trị tôn giáo của việc thực hành bố thí mà ta có thể rút được từ sách Tô-bít.

b. Về mặt xã hội, hành vi bố thí bao hàm, ít ra, ba điều sau: thực hành công bình đối với đồng loại, góp phần thực hiện bình đẳng trong phân phối xã hội và góp phần xây dựng một xã hội ngày một tốt đẹp hơn.

- Trước hết, bố thí là thực hành công bằng xã hội. Nếu đức công bình đòi hỏi phải trả lại cho tha nhân những gì thuộc về họ, theo như giáo huấn của thánh Tô-ma, thì ta không ngần ngại nói rằng bố thí chính là thực hiện đòi hỏi đó. Thật vậy, vì như thánh Am-rô-si-ô đã khẳng định: Không phải bằng tài sản của mình mà anh đã rộng tay với người nghèo đâu, anh chỉ trao lại cho họ những gì thuộc về họ mà thôi. Vì, anh đã chiếm giữ làm của riêng những thứ được ban cho mọi người hưởng dùng chung. Ðất đai được ban cho mọi người chứ không phải là tài sản của những người giàu có (6);

- Thứ đến, bố thí là góp phần thực hiện bình đẳng trong phân phối xã hội. Sự bất bình đẳng trong việc sở hữu tài sản luôn là một vấn đề xã hội khó giải quyết của mọi thời và mọi nơi (như ta đa có dịp đề cấp đến trong hai bài trước). Với sự đáp lại đòi hỏi thực hiện đức công bình như vừa nói trên, bố thí đã thực sự là một đóng góp phần nào cho việc tái phân phối của cải giữa người giàu và người nghèo trong xã hội.

- Sau cùng, bố thí là góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Ngoài việc góp phần làm giảm bớt những cảnh đói khổ và thương tâm của người nghèo, cùng với tinh thần yêu thương và tương trợ lẫn nhau được lồng phía sau, cộng với khả năng tái lập phần nào nền công bình và bình đẳng trong xã hội, việc bố thí sẽ hiển nhiên mang lại cho xã hội con người một nét đẹp vừa nhân bản vừa tôn giáo. Nó xây dựng và hun đúc tình nhân ái giữa con người với nhau, đồng thời làm sống động hình ảnh Thiên Chúa nơi nhân tính qua tình yêu thương nhau giữa họ. Ta lại nhận ra ở đây, chiều kích tôn giáo của việc bố thí.

IV. Bài học từ Tô-bít

Sách Tô-bít, với tính cách là một sách mặc khải, đã cho ta một cái nhìn tương đối hoàn chỉnh về một trong những yếu tố quan trọng của Thánh Kinh, bộ Tân Ước cũng sẽ nhấn mạnh điều này: bố thí và giá trị của thực hành này. Thật vậy, qua nhân vật Tô-bít, ta đã thấy bố thí là kết quả của một tấm lòng biết quan tâm đến đồng loại. Nó được thực hành như một nhân đức. Nó mang đồng thời giá trị tôn giáo và xã hội. Thực hành này góp phần đáng kể để xây dựng một xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Thiết tưởng, với những điều học được từ mẫu gương của Tô-bít, việc thực hành bố thí của mỗi người sẽ mang một sắc thái mới, vừa tôn giáo vừa xã hội. Bài học rút ra, có lẽ đã rõ: bố thí phải đi liền với lòng yêu thương và quan tâm đến đồng loại, một trong những nền tảng của ki-tô giáo.





An Thụ




Bài 11

Của Cải Trong Kinh Thánh

Các Vua Với Của Cải Vật Chất

Trước khi nói về huấn giáo của các nhà Khôn ngoan, ta hãy trở ngược dòng lịch sử một chút, để tìm hiểu đôi điều về các vua. Liên quan đến họ, ta cũng thấy có hai mặt hay và dỡ trong việc sử dụng của cải vật chất. Trong việc này, nơi các vua, khía cạnh tích cực và tốt thường hiếm hoi hơn là việc sai phạm.

Ðiều này có thể là hệ luận của một tiền đề rằng: Các vua vốn là những người giàu có và đầy quyền lực. Có lẽ, đó cũng chính là một trong những lý do giải thích tại sao những người giàu có khó vào Nước Trời: họ thường và luôn dễ dàng sa vào cạm bẩy của sự giàu có vật chất, khiến họ phạm tội chống lại Thiên Chúa và đồng loại. Ðể làm sáng tỏ lập luận này, ta sẽ lấy ví dụ về hai vị vua được mệnh danh là thánh và khôn ngoan: Ða-vít và Sa-Lô-Môn. Chúng cũng sẽ phần nào cho ta một phản ánh về cung cách mà các vị vua trong Dân Chúa đã thực hành liên quan tới sự giàu có.

I. SA-LÔ-MÔN, VỊ VUA KHÔN NGOAN và GIÀU SANG

1. Cuộc đời Sa-Lô-Môn: trung tín và bất trung

Trước tiên, xin nói về Sa-Lô-Môn, một vị đại đế nổi tiếng là khôn ngoan và giàu có, ông là con trai và người kế vị vua Ða-vít. Có lẽ, cũng như các vua khác, ông hoàn toàn xa lạ với phần đông trong chúng ta xét về địa vị xã hội, tuy nhiên, ta cũng có thể rút được đôi bài học liên quan đến sự giàu có của riêng ông cũng như của toàn dân Ít-ra-en: sự giàu có đến mức cực thịnh, dưới vương triều của ông, mang ý nghĩa gì? ông đã làm gì với sự giàu có như vậy?

Ðời vị vua này, ta có thể kể thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, khi còn trẻ, ông là một người đạo đức và khôn ngoan, biết kính sợ Đức Chúa và thờ kính Người. Nhờ vậy, ông đã được thành công trọn vẹn. Dưới vương triều của ông, bờ cõi được mở mang hơn hết so với các vương triều trước; và sau ông, uy tín ông lan rộng bốn phương, sự giàu có của riêng ông được kể là vô hạn, và hơn nữa ảnh hưởng của sự thịnh vượng đó lan đến cả toàn Dân. Và giai đoạn thứ hai, đến khi về già, ông đã yếu đuối chiều theo các bà vợ; ông đã xây cho các bà những nơi tế tự các thần ngoại bang. Ðiều này đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa. Nó đã làm cho Đức Chúa nổi giận, Người đã tuyên bố trừng phạt dòng dõi ông: quốc gia sẽ phải bị chia đôi và sự thịnh vượng không còn nữa.

2. Sự giàu sang ăn rễ nơi Thiên Chúa, một phản ánh về chính Người

Ông được kể như là người giàu có và sang trọng, sự giàu sang của ông được coi là bao trùm thiên hạ. Ở đây, dường như các soạn giả cố tình để qua một bên những đế quốc khổng lồ chung quanh (như Ai-cập và Át-sua) để mô tả về ông như một vị đệ nhất đại đế trong thiên hạ, trong vùng, vào thời đó. Ðiều này, có lẽ, đúng nếu ta chỉ so sánh vương triều của Sa-Lô-Môn với các tộc dân nho nhỏ chung quanh trong vùng đất dọc bờ biển Ðịa Trung Hải (như dân Phi- Li-tinh, dân Am-mon, dân Mô-áp, dân Ga- La-át, v.v.). Vì ta để ý thấy các con số được sử dụng để nói về sự giàu có của ông rất chẵn. Ví dụ như: số vàng ông thu hàng năm là 20.000 kg (1V 10,14), số ngựa ông có là 12.000 con và 1.400 cỗ xe (1V 10,26), ông có 700 bà vợ chính thức và 300 cung phi (1V 11,3), v.v.

Dường như chúng muốn nói một điều gì đó khác hơn nữa (nhưng điểm này không thuộc về chủ đề của chúng ta, xin nhường cho các chuyên gia về chú giải Thánh Kinh). Ðiều quan trọng, có lẽ là, đối với các soạn giả Thánh Kinh, sự giàu sang tột đỉnh vị vua này đến từ một chúc lành và đồng hành của Thiên Chúa. Cụ thể hơn, chúng đi kèm theo sự khôn ngoan tột bực mà chính Đức Chúa đã ban thể theo lời cầu xin của ông, khi còn thiếu thời, lúc ông mới lên ngôi vua chưa được bao lâu (xin xem 1V 3,5-14). Sự giàu sang đó được coi là mang một chiều kích vô cùng khiến không có gì so sánh được với nó. Thật vậy, vì nó đã được liệt kê ra nhằm phản ánh chính sự giàu sang của Thiên Chúa.

3. Thịnh vượng dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa

Ðiều quan trọng khác, sự giàu sang riêng có của ông đã lan trải đến mọi thần dân của ông, những người dân của Chúa. Dưới vương triều ông, theo lời kể, vốn là một phóng đại trong Thánh Kinh, không có thần dân nào của ông phải làm nô lệ cho ông hoặc cho bất cứ ai khác, vì các nô lệ được lấy từ những người ngoại quốc (xin xem 1V 9,20-22). Ðiều này muốn nói rằng, dưới vương triều Sa-Lô-Môn, chính Thiên Chúa đã điều hành đất nước và đưa nó đến sự thịnh vượng tuyệt đối. Trong đó, cũng phải kể đến sự đồng lòng của toàn dân: chấp nhận đi dưới sự chăn dắt của chính Đức Chúa, qua công cụ là vua Sa-Lô-Môn.

Thật vậy, vì thể theo lời hứa từ ngàn xưa: mỗi khi Dân chấp nhận để cho Thiên Chúa dẫn dắt và mỗi khi họ quyết tâm đi theo đường lối của Người, thì chính Đức Chúa sẽ làm cho họ trở nên hùng mạnh hơn mọi dân chung quanh và sự giàu có sẽ đến với họ. Ta nhớ lại trường hợp của các vị tổ phụ đầy lòng trung tín trong các bài trước, Áp-ra-ham, I-sa-ác và Gia-cóp: mặc dù họ chỉ luôn là một nhóm nhỏ, nhưng không một quyền lực lớn hơn nào có thể khuất phục được họ, vì Đức Chúa luôn ở cùng họ, kèm theo đó là sự giàu có khôn tả.

Trái lại, khi Dân quay đầu trở mặt và quên lãng ÐỨC CHÚA, chạy theo các thần ngoại bang thì các tai ương như chiến tranh loạn lạc hoặc đất nước bị ngoại bang xâm chiếm sẽ lại bao trùm trên Dân, cùng với bao nhiêu chuyện khác nữa sẽ xảy đến. Ðiều này đã chớm nở vào cuối đời Sa-Lô-Môn, khi ông làm những điều nghịch lại lệnh truyền của Thiên Chúa. Ông đã xây các nơi thờ tự cho các thần ngoại. Và Thiên Chúa đã tuyên án trên đất nước và dòng dõi tiếp sau ông (xin xem 1V 11,9-13).Ta đã có dịp nghe những điều tương tự khi các ngôn sứ lên án và chúc dữ trên Dân qua những nhà lãnh đạo bất trung, trong bài 9 (ngoài ra, ta còn có thể thấy điều này trong các chuyện kể về các vị vua trong các sách Các Vua và các sách Sử biên niên. Ta sẽ không đề cập đến chúng).

4. Trung tín và bất trung, thịnh vượng và suy tàn

Qua các điều nói trên, ta nhận rõ một chủ đề thần học quan trọng về chủ quyền và ân sủng của Thiên Chúa trên Dân, một trong những chủ đề chính yếu của Thánh Kinh. Ðồng thời, ta cũng thấy một đề tài khác có liên quan đến điều chúng ta muốn tìm hiểu: Sự giàu có vật chất luôn là kết quả của lòng tín trung tuân giữ Lề Luật và, ngược lại, sự bất trung sẽ đưa đến suy tàn. Nơi các vị vua, cụ thể là nơi vua Sa-Lô-Môn mà ta vừa nói trên, điều này thật rõ ràng: Một mặt, với sự khôn ngoan và giàu sang tột bực do ơn Chúa mà ông đã lãnh nhận, ông đã biết cách làm cho toàn dân của ông được hưởng lây, cũng như Danh Chúa được các lân bang biết đến. Mặt khác, vì bị siêu lòng trước các bà vợ ngoại quốc, cũng với sự giàu có đó ông đã thực hiện chính điều Thiên Chúa tuyệt đối cấm: xây tế đàn cho các thần ngoại. Ðó là một trọng tội chống lại Đức Chúa: đối xử bất công với Người. Và Thiên Chúa đã tuyên án trên dòng dõi ông và trên đất nước.

II. ÐA-VÍT, THÁNH VƯƠNG

1. Tội giết người đoạt vợ

Trở ngược dòng xa hơn một chút nữa, ta có câu chuyện thú vị khác liên quan tới Thánh Vương Ða-vít: chuyện ông bị ngôn sứ Na-than nhân danh Đức Chúa khiển trách sau khi ông đã phạm trọng tội giết người đoạt vợ. khi ông giết vị tướng trung thành của ông là U-ri-gia, người gốc Khết. Ta đọc thấy rằng: tình cờ nhìn thấy Bát Se-va, vợ của U-ri-gia, một phụ nữ nhan sắc tuyệt vời, vì dục vọng Ða-vít đã cho đòi nàng đến và đã ăn nằm với nàng; nàng đã có thai với vua; sau đó, do đã không thể gạt được U-ri-gia lãnh trách nhiệm về bào thai đó, vua đã mượn tay quân thành Ráp-ba, thuộc dân Am-mon, để giết chết vị tướng trung thành này; rồi ông đã lấy nàng làm vợ (xin xem 2 Sm 11).

Sau khi nhận ra rằng ngôn sứ Na-than có ý quở trách mình, Ða-vít đã ăn năn hối lỗi và Thiên Chúa đã tha tội cho ông. Luôn luôn, mỗi khi con người ăn năn hối lỗi thì tội của họ sẽ được Thiên Chúa tha ngay; hơn nữa, Người còn hứa tiếp tục thực hiện nơi họ lời hứa với Áp-ra-ham, vị tổ phụ của mọi người về mặt đức tin. Ðó là một trong những mặc khải quan trọng trong Thánh Kinh: Thiên Chúa, Ðấng có lòng nhân từ và thương xót vô biên.

2. Một dụ ngôn không đúng chỗ?

Một điều đáng thắc mắc ở đây, vị ngôn sứ lại dùng một dụ ngôn kể về một người nhà giàu và một anh nhà nghèo nhằm thức tĩnh nhà vua về tội này. Dụ ngôn như sau: Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo. Người giàu có chiên dê và bò, nhiều lắm. Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông: ông coi nó như một đứa con gái. Có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bó của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông. (2Sm 12, 1-4).

Với việc giết người đoạt vợ mà lại dùng câu chuyện giàu nghèo để khiển trách, có lẽ soạn giả Thánh Kinh còn muốn nói về điều gì khác nữa. Chúng ta hãy dừng lại để xem cho rõ hơn.

3. Vẫn vấn đề giàu nghèo

Dụ ngôn này được xây trên hai nhân vật tương phản nhau, một người giàu và một người nghèo, sống trong cùng một thành: người giàu có rất nhiều gia súc, còn người nghèo chỉ có độc nhất một con chiên cái đã mua được; người giàu có khách đến thăm, còn người nghèo thì không.

- Lòng tham không đáy

Con chiên của người nghèo nọ đã bị ông nhà giàu bắt làm thịt đãi khách của mình chỉ vì ông này tiếc của không muốn đụng đến số gia súc của mình. Ðiều này làm ta nhớ lại điều đã nói trong bài trước: quả là không hiển nhiên, đối với nhiều người, trong việc nhìn nhận là mình đã có đủ hoặc đã có dư thừa của cải vật chất. Ỏ đây, mặc dù đã có nhiều lắm, ông nhà giàu này vẫn chưa chịu nhìn nhận rằng ông đã có đủ tài sản theo lòng ông mong muốn: có lẽ, ông vẫn luôn cảm thấy còn thiếu và, do đó, còn phải tìm cách tích lũy thêm nữa mới thoả lòng.

- Ước mơ chính đáng

Con chiên duy nhất đó chính là tất cả gia tài của anh nghèo. Thật vậy, tuy chỉ có mỗi con chiên nhỏ, nhưng anh nghèo kia dường như cũng không có đủ phương tiện để chăm nuôi như người ta thường làm đối với gia súc của mình. Anh ta nuôi nó bằng cách nhường bớt phần lương thực của mình cho nó. Anh ta không có chuồng trại riêng cho nó, cho nên nó ngủ chung với con cái trong nhà, vì thế nó đã trở thành thân quen với chúng. Hơn nữa, đó là một con chiên cái, có thể ngầm hiểu là anh nghèo nuôi trong nó một hy vọng rằng nó sẽ có thể sinh sôi nảy nở thêm cho anh. Ðó là một ước mơ chính đáng của con người, nói chung. Ta còn đọc thấy rằng anh ta yêu quí nó như con gái anh ta.

- Quyền lực kẻ mạnh!

Thế mà, cuối cùng, vì một lý do hoàn toàn không chính đáng và không dính dáng gì đến anh, vì lòng hiếu khách của ông nhà giàu nọ muốn tiếp người lữ khách của ông, vì lòng tham lam và tiếc của của ông nhà giàu, mà bao nhiêu công lao chắt chiu dành dụm và chờ đợi, bao nhiêu hy vọng chính đáng của anh nghèo đã dồn vào con chiên cái bé bỏng kia, chúng đã bị cướp đi và biến mất một cách tàn nhẫn. Sự việc này được vị ngôn sứ trình thuật theo một diễn tiến hoàn toàn suông sẻ, không hề thấy có chút dấu hiệu trở ngại hoặc khó khăn nào. Quyền lực của kẻ mạnh trên người cô thế được đặt thành vấn đề ở đây.

- Quyền lực kinh tế!

Trong dụ ngôn, quyền lực của ông nhà giàu được hiểu là một thứ quyền lực kinh tế dựa trên sự giàu có. Thật vậy, sự kiện ông nhà giàu bắt con chiên cái độc nhất của người nghèo nọ để đãi khách của mình được dụ ngôn kể một cách tự nhiên và liên tục, nó khiến ta có cảm giác rằng người giàu nọ có toàn quyền trên anh nghèo kia trong việc chiếm đoạt số tài sản vốn đã ít ỏi của anh. Ta không nghe nói gì về việc người nghèo thấp cổ bé miệng nọ tỏ thái độ hoặc lên tiếng phản kháng hay, đúng hơn phải nói cách khác, anh nghèo không có, cho dù chỉ một điều kiện đủ, một cơ hội hay một khả năng cần thiết để phản kháng. Ðiều này, dường như, muốn chỉ ra cái quyền lực đáng sợ của người giàu trên người nghèo. Ðấy mới là vấn đề xã hội đáng kể. Ðiều này có thể được so sánh với sự cô thế của vị tướng U-ri-gia trước quyền lực lấn át của vua Ða-vít.

- Quyền lực của vua!

Như vừa nói trên, điểm chung giữa dụ ngôn và tội phạm của Ða-vít là vấn đề quyền lực: quyền lực của vua trên thuộc hạ của mình. Tuy nhiên, sự khác biệt về lĩnh vực áp dụng giữa hai tình huống, một bên là quyền lực chính trị còn một bên là quyền lực kinh tế, đã khiến cho Ða-vít không thể nhận ra rằng ngôn sứ Na-than muốn ám chỉ đến tội phạm của vua khi ông sử dụng dụ ngôn này. Vì thế, vua Ða-vít đã nỗi cơn phẫn nộ và buông lời phán quyết: Có Đức Chúa hằng sống! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết! Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót (2Sm 5b-6). Nhưng chính sự phẫn nộ đó đã trở lại thành lời kết án trên chính hành vi của vua: tội lạm dụng quyền lực vốn được ủy thác và ban cho bởi Trên, chứ không phải tự thân mà có được, để cướp đoạt vợ người khác và còn giết chết người ấy bởi tay ngoại bang.

- Chỉ duy một tội?

Không phải chỉ có tội ngoại tình và tội giết người, nhưng theo tinh thần của Mười Ðiều Răn, cũng là tinh thần của văn hóa Ít-ra-en từ xưa, vợ cũng được xem là tài sản của một người mà người khác không được phép xâm phạm (xin xem Xh 20,17; Ðnl 5,21). Hơn thế nữa, việc giết vị tướng trung thành này lại được thực hiện bằng cách mượn tay của kẻ thù qua một trận đánh không cân sức (xin xem 2Sm 11,14-17). Tội của vua này quả là đa dạng và đáng kể.

Thật vậy, tội lỗi thường và luôn mang bộ mặt đa dạng với những vi phạm đồng thời của nhiều tội khác nhau. Các tội thường có dây mơ rễ má với nhau. Do đó, dù chỉ phạm một tội nào đó, thường thì ta sẽ bị sa vào cả một mạng lưới chằng chịt của nhiều tội liên quan. Ðó là một trong những điều quan trọng cần lưu ý mỗi khi ta ngồi nhìn lại vào tận sâu thẳm tâm can mình, khi có điều kiện và khi thực sự muốn làm điều này.

III. VẪN CHUYỆN BẤT CÔNG XÃ HỘI

Các câu chuyện trên, một lần nữa cho ta một phản ánh về tình trạng xã hội nhiễu nhương trong xã hội Dân Chúa. Nó không hề vắng bóng cho dù là dưới các vương triều có tiếng là mẫu mực và thịnh vượng. Nguyên nhân của nó chính là do sự lạm dụng quyền lực và dùng sai mục đích của cải vật chất. Chúng mang lại những bất công và bất chính dưới nhiều hình thức khác nhau trong xã hội. Hậu quả là những người nghèo cô thế bị áp bức bất công dưới quyền lực lấn át của những kẻ bất nhân mạnh thế.

Ðiều này không chỉ được thực hành bởi các vị vua bất trung với Thiên Chúa mà còn bởi chính các vị vua nỗi tiếng là đạo đức và thánh thiện như Ða-vít, khôn ngoan và giàu sang như Sa-Lô-môn. Với Ða-vít và Sa-Lô-Môn mà hiện tình đã thế, thì sẽ còn tồi tệ hơn nhiều dưới sự cai trị của các triều vua khác vốn được đánh giá là những kẻ chỉ vì tư lợi mà không khước từ các thực hành bất công và tội lỗi. Ðiều này giúp hiểu rõ hơn những gì đã được nói về việc các ngôn sứ lên tiếng phản kháng các bất công xã hội trong bài 9.

Trên đây, ta đã gặp lần lượt trở lại tất cả những chủ đề đã được bàn đến trong các bài trước: chúc lành của Thiên Chúa luôn kèm theo sự giàu có, những người trung tín sẽ được chúc lành, lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa lớn hơn lỗi phạm của con người, sự bất tín đối với Thiên Chúa (nghĩa là đối xử bất công với Người) sẽ đưa đến những vi phạm về công bình xã hội. Chính vì vậy, cần phải rất thận trọng trong việc sử dụng tiền của. Của cải vật chất có giá trị của nó, nhưng bên trên nó còn có nhiều điều khác mang giá trị cao hơn như lòng trung tín, đức thương người, sự khôn ngoan, v.v. Các nhà Khôn ngoan, thuộc nền văn chương khôn ngoan Lưỡng Hà Ðịa, sẽ không quên nhắc nhở Dân về điểm này.





An Thụ




Bài 12

Của Cải Trong Kinh Thánh

Giáo Huấn Của Các Nhà Khôn Ngoan

Ðể kết thúc phần Cựu Ước, trong bài này, ta sẽ tìm hiểu về các giáo huấn khôn ngoan, vốn gần gủi hơn với kinh nghiệm của con người, liên quan đến tiền bạc, vấn đề muôn thuở, và việc sử dụng nó. Tuy nhiên, với các nhà khôn ngoan của Thánh Kinh, các kinh nghiệm đó sẽ được mặc lấy một chiều kích tôn giáo. Quả vậy, vì với các vị, những giáo huấn này đã được tháp nhập vào mặc khải cứu độ của Thiên Chúa.

I - Các sách Giáo Huấn

1. Các sách Giáo Huấn gồm những cuốn nào?

Trong bộ Thánh Kinh Cựu Ước, ngoài bộ Luật Mô-sê (Tô-ra) và tập các sách Ngôn Sứ (Nơ-vi-im) mà ta đã có dịp tìm hiểu trong các bài trước, còn một tập sách khác: các sách Giáo Huấn (Kơ-tu-vim). Tập sách Giáo Huấn này gồm 7 cuốn, trong đó có 5 cuốn thực sự thuộc thể loại huấn giáo (đó là sách Gióp, sách Châm ngôn, sách Giảng viên, sách Khôn ngoan và sách Huấn ca) còn tập Thánh vịnh và sách Diễm ca thuộc thể loại thi ca. Các sách Giáo Huấn phản ánh và đại diện cho một trào lưu tư tưởng khôn ngoan thời đó: nền văn chương khôn ngoan vùng Lưỡng Hà Ðịa.

2. Thánh Kinh với nền văn chương khôn ngoan Cận Ðông

Văn chương khôn ngoan phản ánh tư tưởng của các nhà Khôn ngoan. Các vị là những người suy nghĩ về chủ đề hạnh phúc khởi đi chủ yếu từ những kinh nghiệm sống của con người. Nền văn chương này ảnh hưởng trên toàn khu vực Cận đông cổ thời. Vì vậy, trào lưu tư tưởng này đã thấm nhập vào nền tư tưởng và văn hoá của dân Ít-ra-en. Và hơn nữa, nó đã được tháp nhập vào giáo huấn của Thiên Chúa như một thành phần của mặc khải cứu độ. Thánh Kinh nâng nó thành Ðức khôn ngoan bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Nó là chính sự khôn ngoan của Thiên Chúa, được ban cho Dân qua một số người được Thiên Chúa tuyển chọn để hướng dẫn Dân, và cho những ai hết lòng tìm kiếm chân lý trong niềm tin thờ Đức Chúa. Nó là nguồn gốc của sự khôn ngoan đích thật. Thật vậy, các giáo huấn khôn ngoan trong Thánh Kinh không chỉ hàm chứa những giá trị tích lũy từ kinh nghiệm sống của con người liên quan đến vấn đề hạnh phúc, hơn nữa chúng còn bận tâm đến những hướng dẫn về một hạnh phúc đích thật mang tính tôn giáo, liên quan tới niềm tin vào Thiên Chúa độc nhất và duy nhất của Dân Ít-ra-en.

3. Ðức khôn ngoan với vấn đề hạnh phúc

Liên quan đến chủ đề của cải vật chất và cách thức sử dụng chúng, trong Thánh Kinh, các giáo huấn khôn ngoan dường như chỉ là một lập lại, hoặc một đúc kết, những gì đã được nói trong các phần trước. Nhưng đúng hơn, có lẽ, phải nói rằng: các giáo huấn khôn ngoan đó đã có ảnh hưởng trên các soạn giả Sách Thánh trong quá trình biên soạn. Cho nên, liên quan đến đề tài này, một mặt, các giáo huấn mặc khải chính là một phản ánh của nền văn chương khôn ngoan này và, mặt khác, nền khôn ngoan Cận đông đã được du nhập cách có ý thức vào mặc khải Thánh Kinh, với những thay đổi cần thiết cho phù hợp với niềm tin.

Thật vậy, với chủ đích giáo dục niềm tin của Dân, mặc khải về Thiên Chúa đã chọn thể cách: vừa hội nhập vào trong những suy tư và kinh nghiệm khôn ngoan của nhân loại, vừa du nhập từ chúng các giáo huấn thích hợp hầu giúp con người, với trí khôn và suy tư chân chính, có thể hiểu và tin. Nền văn chương khôn ngoan, vừa là một cái khung hữu ích cho mặc khải, vừa bị vượt quá bởi mặc khải.

Chính vì vậy, ở đây, ta sẽ lần lượt gặp lại tất cả những gì đã được nói trước kia. Nhưng, không nên hiểu điều này như một thụt lùi trong dòng suy tư, hoặc chỉ là một sự lặp lại các điều đã nói. Ðúng hơn, có lẽ, phải hiểu chúng như một đúc kết, cách nào đó, về giáo huấn của Cựu Ước, trước khi chuyển sang phần Tân Ước.

Theo thời gian, cách tiệm tiến, mặc khải đã đưa thêm vào một nét mới về tính phù vân của mọi giá trị trần thế đối diện với Ðức khôn ngoan, một điều cần thiết cho hạnh phúc con người. Với điểm này, của cải vật chất phải tự bộc lộ tính cách phù vân của chúng so với nhiều giá trị khác vững bền hơn và nhất là đối diện với hạnh phúc thật Thiên Chúa hứa ban. Ðó là điều mà sau này Ðức Giê-su sẽ nhấn mạnh: của cải vật chất không còn là điều tuyệt đối cần thiết cho hạnh phúc con người, ngay cả trong cuộc sống trần thế này. Nó chỉ là một công cụ mà thôi.

Với nền giáo huấn này, điều thật sự đáng kể đã được chuyển về Ðức khôn ngoan, vốn xuất phát từ nơi Thiên Chúa. Và đi cho đến cùng của suy luận, chỉ có Thiên Chúa mới là hạnh phúc đích thực cho nhân loại.

4. Một giáo huấn tôn giáo

Các giáo huấn trong các sách này bàn về chủ đề công bình xã hội như một phản ánh về lòng kính sợ Ðức Chúa và đối xử công bình với chính Người. Ai thực hành như vậy sẽ được hạnh phúc. Thật vậy, ta hãy nghe một trích đoạn của sách Châm ngôn: Ước chi ân tình và tín nghĩa chẳng hề lìa xa con, nhưng nên như vòng con đeo vào cổ, và được con ghi khắc tận đáy lòng.

Như vậy, con sẽ được cả Thiên Chúa lẫn phàm nhân yêu thương và quý chuộng. Hãy hết lòng tin tưởng vào Đức Chúa, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước, Người sẽ san bằng đường nẻo con đi. Ðừng tự coi mình là khôn ngoan, hãy kính sợ Đức Chúa và tránh xa sự dữ. Của cải làm ra, con hãy dùng mà tôn vinh Đức Chúa, và hãy dâng lên Người phần hoa lợi đầu mùa của con. Nhờ thế, kho chứa của con sẽ đầp ắp lúa thơm, và bồn ép sẽ tràn trề rượu mới (Cn 3,3-7.9-10).

5. Một quan niệm mới về tiền của

Trong các bài trước, ta đã thấy rằng các Ngôn sứ, dù không hề miệt thị của cải vật chất, nhưng đã kết án các cách thế sử dụng sai lầm của cải được thực hiện bởi những người không giữ lòng trung tín với Thiên Chúa, Ðấng họ tôn thờ. Những người này đã coi vàng bạc như một thứ thần tượng để thờ kính.

Trong khi đó, quan niệm cho rằng của cải vật chất mang một giá trị đáng kể, như là một chúc lành của Thiên Chúa và thiết yếu cho cuộc sống trần thế, là một quan niệm tồn tại rất lâu trong tư tưởng Do Thái, cũng như nơi các dân chung quanh. Quan niệm tương tự vẫn còn tồn tại ngay cả trong thời đại của chúng ta, nơi một số người. Tuy nhiên, trong lòng Dân Ít-ra-en, ngay từ thời các nhà Khôn ngoan, song song với quan niệm vừa nói trên, đã xuất hiện một quan niệm khác cho rằng tiền của chỉ là tương đối và, hơn nữa, chúng còn bị vạch trần tính phù vân vốn có. Chúng bị coi là tương đối khi đối diện với các giá trị khác cao hơn như sức khoẻ, sự lương thiện, tiếng tốt, v.v. Khi đối diện với Thiên Chúa và hạnh phúc thật Người hứa ban, tất cả mọi thực tại trần thế chỉ là phù vân.

Thực vậy, chính vua Cô-hê- Lét, một nhà khôn ngoan mệnh danh là Giảng viên, sống vào khoảng thế kỷ thứ III TCN, đã là người đầu tiên trong Thánh Kinh nói về tính phù vân của của cải bạc tiền: nó phù vân như mọi sự phù vân khác (ta sẽ nói rõ hơn dưới đây). Nhưng, nếu trở ngược dòng lịch sử xa hơn cho đến ngôn sứ I-sai-a, khoảng thế kỷ thứ VIII TCN, ta thấy đã có lời Thiên Chúa kêu gọi những ai đói khát hãy đến mua không cần trả tiền những gì cần thiết cho nhu cầu sinh tồn của họ, I-sai-a kêu gọi rằng: Ðến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào. Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng? Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị (Is 55,1-2). Kể từ đó, người ta đã có thể nhận thấy rằng: tính cách miễn phí của ơn sủng Thiên Chúa đã chấm dứt vai trò tuyệt đối của của cải bạc tiền.

Trong dòng ảnh hưởng đó, ta sẽ nghe các nhà Khôn ngoan trong Thánh Kinh dạy Dân.

II - Những lời chỉ giáo

Liên quan đến đề tài về tiền bạc và việc sử dụng nó, các giáo huấn khôn ngoan, thực sự, không khó hiểu vì một mặt chúng được nói rất rõ ràng và, hơn nữa, chúng rất gần với tư tưởng khôn ngoan của mọi thời và mọi nơi. Cho nên, thiết tưởng chỉ cần liệt kê chúng ra đây mà không cần phải giải thích gì thêm.

1. Của cải vật chất, chúc lành của Chúa

Theo các nhà khôn ngoan này, của cải vật chất, vàng và bạc, vẫn còn mang một giá trị như là phần thưởng của Thiên Chúa cho những ai biết thực thi công bình trong tinh thần tôn thờ Đức Chúa.

Trước hết, của cải là do Thiên Chúa ban cho như sách Châm ngôn khẳng định: Chính chúc lành của Đức Chúa cho ta được giàu sang, vất vả nhọc nhằn chẳng thêm chi vào đó (Cn 10,22).

Nhưng, ai được ở trong ân tình với Thiên Chúa mới thật sự có hạnh phúc, vì điều quan trọng nhất không nằm nơi sự giàu có. Sách Châm ngôn ghi lại cho ta lời cầu nguyện của một người đạo đức như sau: Con chỉ xin hai điều, Ngài đừng nỡ chối từ trước khi con nhắm mắt: xin đẩy xa con lời dối trá và chuyện lọc lừa. Xin đừng để con túng nghèo, cũng đừng cho con giàu có; chỉ xin cho con cơm bánh cần dùng, kẻo được quá đầy dư, con sẽ khước từ Ngài mà nói: Đức Chúa là ai vậy?, hay nếu phải túng nghèo, con sinh ra trộm cắp, làm ô danh Thiên Chúa của con (Cn 30,7-9).

Thật vậy, Thiên Chúa sẽ ban tặng sự giàu có như một bảo đảm vật chất cho ai biết quan tâm đến người đồng loại, nhất là những người anh chị em khốn khổ có nhu cầu. Ai thực hành như vậy, sự giàu có sẽ được ban thêm cho họ cùng với sự sống, vốn là điều cơ bản của đời người, và nhiều điều đáng giá khác nữa. Như sách Châm ngôn dạy: Lắm của cải đâu quý bằng danh thơm tiếng tốt, vàng với bạc nào trọng bằng được mến được thương. Kẻ giàu người nghèo gặp nhau ở điểm này: cả hai đều được Đức Chúa tạo dựng. (.) Giàu sang vinh dự và sự sống là phần thưởng Đức Chúa dành cho kẻ khiêm nhu và kính sợ Người. (.) Người tử tế sẽ được chúc phúc, vì đã đem cơm bánh cho người nghèo (Cn 22,1-2.4.9). Và sách Huấn ca cũng kêu gọi:

Hãy rộng lượng với kẻ nghèo hèn, đừng chần chừ khi phải bố thí. Theo luật dạy, con hãy đón tiếp kẻ khó nghèo, vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng. Hãy bỏ tiền ra giúp người anh em bạn hữu, đừng đem chôn dưới đá kẻo nó hư đi. Hãy theo lệnh Ðấng Tối Cao mà sử dụng của cải, việc đó còn ích lợi cho con hơn cả vàng. Rộng tay bố thí là con chất đầy kho lẫm, và con sẽ thoát mọi nỗi gian nguy. Của bố thí sẽ nên vũ khí giúp con chống địch thù, lợi hại hơn cả khiên dầy giáo nhọn (Hc 29,8-13).

2.Của cải vật chất, phù vân

Tuy nhiên, như đã nói trên kia, của cải bạc tiền hàm chứa trong nó tính phù vân, như mọi thứ khác nó chỉ mang một giá trị tạm thời, như nhà Giảng viên đã công bố: Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân (Gv 1,2) và sách Châm ngôn cũng khẳng định: . vì của cải không bền lâu muôn thuở và danh vọng chẳng lưu truyền muôn kiếp (Cn 27,23-24).

Sự phù vân, ở đây, không có nghĩa là các thực tại trần thế chỉ là những thứ vô nghĩa hoặc hư không, chẳng có chút giá trị nào. Chúng phù vân nhưng không phải là điều giả trá. Tính phù vân của chúng nói lên rằng chúng vốn là những thực tại chóng qua, chỉ có giá trị nhất thời và nhất định, so với Ðức khôn ngoan. Trong số đó, tiền của và sự giàu có chỉ được xếp ở một thứ hạng rất thấp so với một số những giá trị bền vững hơn, và đặc biệt chúng sẽ trở thành hư không trước Thiên Chúa. Ta có thể kể ra vài so sánh.

Ðức khôn ngoan đứng hàng đầu trong số đó, nó vượt trội mọi giá trị của sự giàu sang, như ta nghe vua Sa-Lô-Môn nói rõ trong sách Khôn ngoan 7,8-9.13-14 rằng: Ðức Khôn Ngoan, tôi đã quý trọng còn hơn cả vương trượng, ngai vàng. Tôi không coi của cải là gì so với Ðức Khôn Ngoan. Ðối với tôi, trân châu bảo ngọc chẳng sánh được với Ðức Khôn Ngoan, vì vàng trên cả thế giới, so với Ðức Khôn Ngoan, cũng chỉ là cát bụi, và bạc, so với Ðức Khôn Ngoan, cũng kể như bùn đất. (.) Những điều tôi đã thành tâm học hỏi được, xin truyền đạt hết, không dè sẻn chi. Tôi không hề giấu giếm của cải phong phú của Ðức Khôn Ngoan. Ðức Khôn Ngoan là kho báu vô tận cho con người. Chiếm được Ðức Khôn Ngoan là được nên bạn hữu với Thiên Chúa, và được Người tin cậy, vì đã tiếp nhận những lời dạy dỗ bảo ban. . Sách Châm ngôn cũng dạy: Ðược khôn ngoan tốt hơn được vàng, được hiểu biết, quý hơn được bạc (Cn 16,16).

Sống lương thiện thì đáng giá hơn giàu sang, như lời khẳng định của sách Châm ngôn 28,6: Thà nghèo mà ăn ở vẹn toàn còn hơn giàu mà sống quanh co. Và tiếng tốt thì cần cho một con người hơn là tiền của, vì cũng sách Châm ngôn nói rõ: Lắm của cải đâu quý bằng danh thơm tiếng tốt, vàng với bạc nào trọng bằng được mến được thương (Cn 22,1).

Nhất là, thực hành công chính, vốn là điều Thiên Chúa đòi hỏi và chờ đợi nơi con người, mới là điều thực sự cần thiết. Ta có thể kể ra đây hai chỉ dẫn của sách Châm ngôn: Của phi nghĩa nào lợi ích chi, sống công chính mới cứu ta khỏi chết (Cn 10,2) và: Trong ngày thịnh nộ, của cải ích lợi chi, chỉ đức công chính mới cứu khỏi tử thần (Cn 11,4);

Ta còn có thể kể thêm đến sức khoẻ, điều này hiển nhiên, là điều đứng hàng trên so với của cải. Sách Huấn ca 30,14-16 xác quyết: Nghèo mà cơ thể lành mạnh cường tráng, còn hơn giàu mà thân xác ốm o xo bại. Khoẻ mạnh và tráng kiện thì hơn mọi thứ bạc vàng, một thân hình vạm vỡ thì hơn cả gia tài vô tận. Không của cải nào bằng sức khoẻ của thân xác, chẳng vui sướng nào hơn niềm vui của con tim.

Nhưng, phải nhắc ngay thêm rằng tất cả những thứ kể trên đều không đáng kể trước sự vĩnh tồn của Thiên Chúa và hạnh phúc thật nơi Người.

3. Của cải vật chất, mối nguy

Với tính phù vân bị lột trần đó, của cải vật chất, vốn được đánh giá khá cao nơi nhiều người, dễ trở thành một mối nguy cho bản thân họ. Bởi ước muốn chiếm hữu và lòng ham muốn chiếm hữu nhiều hơn, họ sẽ dễ dàng quên lãng điều quan trọng hàng đầu có tính cách quyết định đến hạnh phúc thật của họ: lòng kính sợ Đức Chúa và quan tâm đến anh chị em.

Thật vậy, nơi các nhà Khôn ngoan, của cải vật chất còn được trình bày như một thử thách đối với con người và một cản trở họ đạt đến đích điểm của hạnh phúc. Ta nghe sách Giảng viên 5,9.11 lưu ý: Người thích tiền bạc có bao nhiêu cũng không lấy làm đủ; kẻ bo bo giữ của chẳng thu được lợi lộc gì. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân! (.) Làm việc vất vả thì ngủ ngon: ăn ít hay nhiều thì cũng vậy; lắm bạc nhiều tiền đâu được ngủ yên! Sách Huấn ca 27,1 còn nói rõ hơn: Vì ham lợi mà nhiều người mắc lỗi, mải làm giàu, người ta cứ ngoảnh mặt làm ngơ và đoạn 31,5-7 thêm: Ðã ham tiền không sao công chính được, chạy theo lợi lộc ắt sẽ lỗi lầm. Bạc tiền khiến cho bao người sa ngã, thế nào cũng đưa họ đến hư vong. Nó là cái bẩy cho ai say mê nó, hết mọi kẻ ngu si sẽ sa vào . Quả thật, nó là một mối nguy cho con người, nhất là những ai chỉ lo nghĩ đến điều đó.

Từ đó, các nhà Khôn ngoan cũng không quên chỉ ra các lỗi lầm nghiêm trọng mà những người giàu có thường vấp phạm. Ðó là những lỗi lầm liên quan đến việc sử dụng không chính đáng của cải vật chất trong khi đối diện với những người cùng khổ, mà ta đã có nhiều dịp nói tới trong các bài trước.

Tuy nhiên, có lẽ phải nói thêm đôi điều về những chỉ giáo tích cực hơn về việc phải sử dụng tiền của như thế nào.

4. Nên sử dụng của cải như thế nào?

Trong khi đó, các nhà Khôn ngoan cũng cho những lưu ý liên quan đến của cải bạc tiền, ví dụ như điều nhắc nhỡ của sách Huấn ca 5,1 này: Ðừng cậy vào tài sản của con, và đừng nói: Tôi có đủ cả rồi! . Ta cũng nhớ lại lời cầu nguyện trong sách Châm ngôn đã được trích trên kia rằng còn có nhiều điều khác quan trọng hơn tiền bạc, nhất là Thiên Chúa (xin xem Cn 30,7-9).

Tích cực hơn, các vị dạy những người giàu phải chia sẻ tài sản vật chất của họ cho người nghèo, nhất là những ai cần đến, bằng cách làm việc bố thí và tuyệt đối tránh khai thác người khác: Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi. Ai đền ơn đáp nghĩa là biết lo xa, lúc sa cơ, người ấy sẽ tìm được nơi nương tựa. Con ơi, đừng tước đoạt miếng cơm manh áo của người nghèo, đừng để kẻ khốn cùng luống công chờ đợi. Ðừng làm cho kẻ đói phải buồn tủi, dừng chọc tức ai khi họ phải ngặt nghèo. Một tâm hồn đang bực bội, con đừng làm khổ thêm, đừng bắt kẻ túng thiếu đợi lâu mới được con giúp đỡ. Kẻ khốn khổ xin nài, con đừng từ chối, gặp người nghèo, con đừng ngoảnh mặt đi. Ðừng làm ngơ không nhìn đến kẻ thiếu thốn, kẻo nên cớ cho người ta nguyền rủa con. (Hc 3,30 - 4,5; xin xem thêm Hc 29,8-13). Bằng cách thực hành các điều đó, người ta có thể kết được nhiều bạn bè và sẽ trở nên những người bạn của chính Thiên Chúa, Ðấng là tất cả (xin xem Kn 7,7-14).

Ðó chính là hạnh phúc thật mà con người cần tìm kiếm.

III. Một lời kết cho phần Cựu Ước

Qua tất cả những gì đã được nói, ta có thể rút ra một kết luận mang tính thần học về của cải vật chất và cách thức sử dụng chúng theo Thánh Kinh.

Dưới ảnh hưởng của nền văn minh Cổ Cận đông, Thánh Kinh Cựu Ước hàm chứa một chuỗi suy tư rõ nét về vấn đề này.

Khởi đi từ những câu chuyện về một số nhân vật, vốn là gương mẫu về niềm tin, như các tổ phụ và các thánh nhân. Cùng với một cuộc sống niềm tin mẫu mực, cuộc sống thường nhật của các vị đã được trình thuật kèm với một lối sử dụng của cải vật chất cách chính đáng: bằng một tấm lòng nhân ái và tôn trọng con người hợp với đạo lý, các vị đã biết tận dụng sự giàu có của mình để sống trọn niềm tin vào Thiên Chúa giữa lòng đời.

Như ta đã thấy, xét về mặt xã hội, vốn chỉ là những cá nhân thuộc về một bộ tộc như nhiều người khác, nhưng các vị đã được mô tả như những vĩ nhân: được coi là rất giàu có và hùng mạnh, nhờ ơn chúc lành của Thiên Chúa. Các vị đã biết tuân giữ lệnh Người truyền và tôn thờ Người, các vị đã được Người chọn lựa để thực hiện lời hứa cứu độ. Các vị đã hằng quan tâm đến những điều đáng giá hơn sự giàu có bạc tiền. Các vị đã không quên giúp đỡ và đón tiếp đồng loại, xây dựng tình huynh đệ, tỏ lòng rộng lượng, tôn trọng công bình, một mực hiếu hoà, chăm chỉ làm lụng, không muốn tranh cạnh.

Các thực hành cá nhân mẫu mực đó, đã được đúc kết thành những luật lệ, các luật thánh, nhằm xây dựng và điều hành một xã hội công bằng hơn, đầy nhân nghĩa hơn; và nhằm loại trừ và hạn chế các thực hành sai trái nghịch lại Thiên Chúa và chống lại đồng loại.

Những sai phạm này đã bị mạnh mẻ lên án bởi các ngôn sứ với mục đích kêu gọi Dân đừng quên đặt niềm tin vào Ðức Chúa và phục hồi lại nền công bình xã hội mà Thiên Chúa đã răn dạy và thiết lập.

Các nhà khôn ngoan cũng đã lên tiếng chỉ dạy một số thực hành hợp với đạo đức và niềm tin, trong khi qui chiếu về mặc khải của Thiên Chúa.

Của cải vật chất, qua đó, chỉ được coi là một công cụ hữu ích có khả năng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các sinh hoạt xã hội con người. Tuy vẫn còn được coi là một chúc lành của Thiên Chúa và là một trong những thứ cần thiết cho cuộc sống trần thế của con người, tính cách phù vân của chúng đã bị vạch rõ. Hơn nữa chúng còn có thể, và rất dễ, trở thành một mối nguy cho con người. Vì với lòng tham không đáy, con người dễ bị mê hoặc bởi sự thu hút của chúng đến nỗi không còn khả năng nhận ra rằng bên cạnh mình còn có anh em đồng loại và bên trên mình còn có Thiên Chúa Quyền Năng. Họ trở nên mù quáng, họ tự đánh mất chính mình mà không biết.

Ðiều quan trọng là phải biết sử dụng chúng cách hữu ích hầu đem lại lợi ích cho tha nhân và cho bản thân, để mưu cầu hạnh phúc đích thực cho chính mình và cho mọi người.

Thiết tưởng, một suy tư thần học như thế, liên quan đến chủ đề tiền bạc, vẫn còn giá trị cho thời đại của chúng ta. Tuy nhiên, nếu tiếp tục tìm hiểu các giáo huấn của Tân Ước, Thánh Kinh sẽ còn dạy cho chúng ta nhiều điều bổ ích nữa. Quả vậy, trong các sách Tân Ước, Ðức Giê-su sẽ có một giáo huấn hoàn toàn mới mẻ và tích cực cho đề tài tiền bạc.





An Thụ




Bài 13

Của Cải Trong Kinh Thánh

Tân Ước và vấn Ðề Tiền Bạc

Một lời dẫn

Nếu trong bộ Cựu Ước, cụ thể là tập các Sách Khôn ngoan, đã bắt đầu thấy nói về tính phù vân của của cải bạc tiền, thì Tân Ước sẽ khẳng định lại điều đó bằng cách làm cho chúng mất hết mọi giá trị khi đặt chúng đối diện với các giá trị Nước Trời. Trong khi đó, cũng giáo huấn Tân Ước sẽ không quên nhấn đến một công dụng khác quan trọng hơn của của cải vật chất khi nhìn chúng trong khung cảnh của cộng đồng những người tin vào Danh Ðức Ki-tô, đó là chúng có thể trở nên dấu chỉ của tình bác ái huynh đệ và của mối hiệp thông giữa con người với nhau, và cụ thể là giữa các tín hữu. Ðó là hai khía cạnh chính của loạt bài tiếp theo đây.

Trong bộ Tân Ước, trong số bốn sách Tin Mừng, liên quan đến chủ đề tiền của, chúng ta sẽ thấy rằng thánh Gio-an gần như không có chỉ dẫn nào; còn trong số ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm chỉ có thánh Lu-ca ghi lại nhiều giáo huấn có liên quan của Ðức Giê-su, về phần hai thánh Mát-thêu và Mác-cô, ta sẽ chỉ thấy có một vài đóng góp mà thôi, tuy nhiên chúng không hề kém quan trọng. Ðó là nói về các văn đoạn mang tính cách giáo huấn và thiên về lý thuyết nhiều hơn, tuy nhiên chúng luôn được khởi đi từ những quan sát và những kinh nghiệm. Tiếp đến, ta sẽ có một số trình thuật về những thực hành cụ thể hơn trong sách Công Vụ Tông Ðồ và các thư của các tác giả Tân Ước, đặc biệt là các thư của thánh Phao- Lô và thánh Gia-cô-bê.

Ðể giúp thấy được vấn đề và gợi một đôi ý tưởng ban đầu cho việc đọc các giáo huấn Tân Ước về đề tài tiền bạc trong các bài sau, đồng thời nhằm trả lời cho một số thắc và phản ứng không nhìn nhận ý tưởng rằng Tân Ước có những chỉ dẫn về tính tích cực của tiền bạc và sự giàu có, người viết xin dành bài dẫn nhập này cho những phân tích diện đối diện với một vài bản văn thường được coi là minh chứng cho điều ngược lại. Ðiều này nhằm cung cấp một vài khởi điểm cho những suy tư sau này. Ít ra, ta có thể nói về ba điểm sau.

1.Ðể đạt đến Tình Yêu, phải loại trừ tính ích kỷ và lòng tham lam

Trước hết, với tư cách là mặc khải về Tình Yêu Thiên Chúa và về Nưới Trời, các giáo huấn Tân Ước chắc chắn nhằm một mục đích hàng đầu là kêu gọi lòng hoán cải của con người quay về với Thiên Chúa và chọn sống trong sự quan phòng của Người, và vì vậy ta sẽ được nghe đến nhiều sứ điệp kêu gọi con người hãy tự giải gỡ cho khỏi mọi ràng buộc trần thế hầu đạt đến chính Thiên Chúa, Kho Tàng Ðích Thật. Như ta nghe lời sau đây của chính đức Giê-su dạy dân chúng trong bối cảnh những huấn dụ của bài giảng trên núi, theo Tin Mừng theo thánh Mát-thêu rằng: "Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tng dưới đất, nơi mối mọt lm hư nt, nơi kẻ trộm khot vch v lấy đi. Nhưng hy tích trữ cho mình những kho tng trn trời, nơi mối mọt khơng lm hư nt, nơi trộm cắp khơng đo ngạch v lấy đi được. Vì kho tng của anh ở đu, thì lịng anh ở đĩ." (Mt 6,19-21). Nhưng điều đó không có nghĩa là của cải vật chất và các nhu cầu hàng ngày không còn cần thiết nữa hoặc chúng chỉ là rơm rác. Vì cũng chính Ðức Giê-su, ngay liền trước đó, khi nói về ba chủ đề bố thí, cầu nguyện và ăn chay, trong kinh Lạy Cha, Ngài đã dạy các môn đệ phải cầu nguyện như thế nào: . Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. (Mt 6,11). Vâng, nhu cầu vật chất vẫn luôn có chỗ của nó trong giáo huấn của Ngài. Ðiều quan trọng, đối với Ngài, là đừng chỉ có lo lắng cho mỗi việc thu tích cho bản thân mình những của cải rồi sẽ tàn lụi đó.

Hơn nữa, phía sau lời căn dặn được trích dẫn ở trên, ta có thể đọc thấy một ẩn ý quan trọng về những căn nguyên tội cần phải tránh, đó là tính ích kỷ và lòng tham lam. Thật vậy, vì tính ích kỷ mà người ta sẽ chỉ lo ôm trọn mọi thứ cho riêng chính mình, với ảo tưởng rằng những thứ đó sẽ đem lại cho mình sự bảo đảm tuyệt đối. Và như thế, người ta sẽ dễ dàng quên mất Thiên Chúa và đồng loại. Trong khi đó, thực ra, những thứ đó vốn chỉ là những cái không thể tồn tại lâu bền được, nhất là khi so sánh với kho tàng đích thực trên trời.

Cũng vậy, vì lòng tham lam, mà người ta sẽ dễ đi xa đến mức chẳng từ nan bất cứ cách thế nào, nhằm có thể vơ vét và gom hết về cho bản thân mình mọi thứ được coi là quí giá dưới mắt con người (như vàng, bạc và nhiều thứ của cải khác); và, còn hơn thế nữa, vì muốn chiếm hữu hết mọi thứ đó, nhiều khi và thường khi, người ta sẽ quên mất cả sự an toàn cho chính bản thân, trong khi đang lo chạy theo của cải, để rồi, đến một lúc nào không biết, sẽ bị rơi tỏm xuống vực và có khi phải đến mất mạng. Ðúng như một câu rất chí lý trong tiếng Việt rằng: Tham thì thâm. Và một khi lòng dạ người ta chỉ còn quan tâm đến những chuyện như thế thì sẽ không còn có chỗ cho Thiên Chúa và Lời của Người cũng như cho bất cứ điều gì tốt đẹp khác (chẳng hạn như các chỉ dẫn và giáo huấn của các nền khôn ngoan nhân loại), và dĩ nhiên, cũng không có chỗ cho người anh em đồng loại. Vâng, lối thu tích của cải như thế vốn là sai lầm. Thiết tưởng, đó là điều Ðức Giê-su muốn nhắc nhở ở đây.

Vậy, một trong những điều đầu tiên cần ghi nhận, trước khi bắt đầu tìm hiểu các giáo huấn của Tân Ước liên quan đến chủ đề này, là: hãy lo tìm kiếm Nước Trời trước tiên và, đồng thời, cũng cần quan tâm đến những nhu cầu hàng ngày trong khi đừng quên rằng còn có anh em đồng loại bên cạnh mình, và hai điều tuyệt đối phải tránh, đó là tính ích kỷ và lòng tham lam. Thiết tưởng đó là kim chỉ nam giúp ta đọc các giáo huấn của Ðức Giê-su.

2.Tiền và thần tiền

Một chất vấn khác sẽ được đặt ra tức thì, đó là làm sao hiểu được điều mà chính Ðức Giê-su đã dạy về tính cách ngẫu tượng (Ma-mông, thần tiền ) của tiền bạc. Quả thật, Ðức Giê-su đã dạy các môn đệ rằng: Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của (Ma-mông) được (Mt 6,24; Lc 16,13b). Về lời kết luận này và về dụ ngôn đã dẫn đến lời này ta sẽ có dịp nói đến sau này. Ở đây và bây giờ, trong phần dẫn nhập này, chỉ xin nói một chút về nguồn gốc của từ Ma-mông. Từ này chỉ được sử dụng có hai lần mà thôi. Ðây là một từ Hy-Lạp, mamwnas (ma-mô-nas), có nguồn gốc từ tiếng a-ram hoặc tiếng sy-ri, hàm những nghĩa sau: đồng tiền, kho tàng, sự giàu có (được hiểu như là một thứ thần đối nghịch với Thiên Chúa); nó còn gợi đến tên của thần Phutus, vị thần tài, một vị thần của những người giàu có.

Ngoài ra, theo như lịch sử tiền tệ, ta còn có thể có một chỉ dẫn khác: vào thời kỳ cộng hoà Rô-ma, dưới sự kiểm soát của ba vị quan coi về việc chu chuyển và đúc tiền đồng, tiền bạc và tiền vàng, các đồng tiền hợp pháp phải được đóng tên và dấu ấn của họ trên đó, đồng thời với những ký hiệu mang tính cách lịch sử, tôn giáo hoặc biểu tượng khác nhau và, đôi khi, cả hình của các vị tổng trấn và các vương tước. Vào thời của hai vị Hoàng đế Sylla và Xê-da, hình của hai vị hoàng đế độc tài này đã được khắc trên những đồng tiền vàng (thực ra, thực hành này đã xuất hiện trong vòng 3 thế kỷ của đế chế Hy-Lạp trước đó rồi). Nhưng việc khắc hình hoàng đế trên tiền chỉ thực sự hợp hiến từ những năm 44 TCN. Ta cũng nhớ lại rằng vào thời các Ki-tô hữu đầu tiên đã có lệnh bắt buộc tôn thờ Hoàng đế Rô-ma như một vị Thần. Và, có lẽ, đó là một trong những chìa khoá giúp ta hiểu lời quả quyết này của Ðức Giê-su: Tiền Bạc là một đối cực với chính Thiên Chúa. Quả quyết này đòi con người, nhất là những người muốn đón nhận giáo huấn của Ngài, phải có một chọn lựa dứt khoát. Thiết tưởng, phải nên hiểu tính cách đối cực này của tiền bạc trong khung cảnh đó, chứ không phải đơn thuần là trong một cái nhìn coi tiền bạc như điều đáng ghê tởm.

3.Không phải tiền bạc, mà là sứ vụ

Một điểm khác nữa tưởng cũng cần phải làm rõ ngay. Ðó là lời này của Ðức Giê-su: Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu (Mt 8,19-20; Lc 9,57-58). Ðã hơn một lần tôi được chất vấn rằng: Có phải chăng, qua câu nói đó, Ðức Giê-su đã đòi hỏi một cuộc sống nghèo đến mức tuyệt đối, theo chính gương mẫu giải trừ hoàn toàn việc sở hữu của cải vật chất của Ngài? Nếu đúng như vậy, làm sao ta có thể nói về việc Ngài coi của cải vật chất cũng có một giá trị đáng kể? - Câu trả lời là: câu nói này đã được trích dẫn không đúng hoàn cảnh. Thiết tưởng, phải đọc câu này trong bối cảnh Ðức Giê-su nói về điều kiện đủ để đi theo làm môn đệ Ngài; nó không thể được trưng dẫn như một biện minh rằng Ðức Giê-su là một người nghèo đến mức không có gì cả. Thật vậy, câu này được nói trong bối cảnh của một giáo huấn về sự đòi hỏi dứt khoát của chọn lựa đi theo Ðức Giê-su.

Chỉ có hai trong số ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm, thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca đã ghi lại trình thuật này. Thánh Mát-thêu đặt nó trong khung cảnh một đối thoại ngắn giữa Ðức Giê-su và một vị kinh sư, ông này đã đề nghị xin đi theo Ngài làm môn đệ; nó chính là câu trả lời của Ngài cho ông kinh sư nọ (xin xem Mt 8,18-20). Cùng với nó ta còn có một câu trả lời khác cho một môn đệ xin được, trước hết, trở về chôn cất cha rồi sẽ trở lại theo Ngài rằng:

Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết (Mt 8,22; và tiếp theo). Còn thánh Lu-ca thì đặt nó làm một trong ba cuộc đối thoại ngắn giữa Ðức Giê-su với ba người nào đó Ngài gặp trên đường, họ muốn xin theo Ngài (xin xem Lc 9,57-62). Ngoài hai cuộc đối thoại tương tự như ta vừa nghe, ta còn nghe một người thứ ba ngỏ ý muốn trở về chia tay với gia đình trước khi dấn bước theo Ngài, và câu trả lời là: Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa (Lc 9,62).

Vấn đề sở hữu, rõ ràng, không phải là chủ đích của các đối thoại trên. Vì chúng muốn nói về vấn đề chọn lựa dấn thân và sứ vụ. Thật vậy, trở lại câu trả lời đầu tiên, nếu lưu ý kỹ, ta sẽ tự hỏi tại sao Ðức Giê-su lại mượn hình ảnh hang chồn và tổ chim để diễn đạt đòi hỏi của Ngài. Có phải chăng chúng nhằm nhấn mạnh đến tính cách bị trói buộc và lệ thuộc, đến mức không thể tách rời, với hang và tổ của loài chồn và loài chim.

Ý tưởng, có lẽ, đã rõ: ngay cả những con chồn giỏi lùng sục mọi ngách trong chốn núi rừng và cả những cánh chim không mỏi ngang dọc lưng trời cũng không thể rứt ra được khỏi sự ràng buộc có tính cách tự nhiên của hang và tổ của chúng. Vì, cho dù có đi xa đến đâu, những chú chồn cũng phải lo quay về hang và, dù có bay xa đến đâu, các cánh chim vẫn cần quay về tổ vào lúc chiều tà. Ở đây, có lẽ, vì muốn nhấn mạnh đến tính cách dứt khoát của việc chọn đi theo Ngài, một chọn lựa sứ vụ làm người loan báo Tin Mừng, Ðức Giê-su đã dùng những hình ảnh này để làm một phản diện cho đòi hỏi của Ngài. Ðòi hỏi đó thực sự đáng kể: phải dứt khoát bứt ra khỏi cả những thói quen tự nhiên cũng như nhân bản chính đáng nữa.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, trong cuộc sống tại thế, Ðức Giê-su cũng đã có lúc quay về xứ sở của Ngài, miền Na-da-rét, và Ngài cũng đã có không thiếu những nơi trú ngụ để ăn uống và nghỉ ngơi. Có điều là, trong khi dấn bước trên đường sứ vụ, Ngài sẳn sàng dừng lại ở bất cứ nơi đâu người ta tiếp đón Ngài, chứ không nhất thiết phải quay trở lại đúng một vài chỗ nhất định nào đó (như thói quen bẩm sinh thấy nơi chồn và chim). Vì đối với Ngài sứ vụ loan báo Tin Mừng đòi phải dấn bước: một sự dấn bước không do dự và không hối tiếc. Với xác quyết đó, Ngài cũng đã đòi hỏi cách không khoan nhượng những ai muốn đi theo Ngài: phải bỏ lại sau lưng, ngay cả, một người cha vừa mới qua đời, một khi đã đến lúc phải lên đường; và chỉ có hướng về phía trước mà tiến bước một khi đã tra tay vào sứ vụ, không được có chút do dự ngoái lại đàng sau . Khó thật!

Tuy nhiên, đòi hỏi đó về việc chọn lựa và dấn thân cho sứ vụ cũng có chút liên quan cách gián tiếp đến chủ đề giải trừ sở hữu tài sản vật chất. Nhưng nó không thể được dùng như một lập luận để bàn về vấn đề tiền bạc, như một số người thường trích dẫn nó để minh chứng về việc sống nghèo.

Bởi vì các trích đoạn về sứ vụ này không liên quan trực tiếp đến chủ đề của chúng ta, nên xin được không bàn sâu thêm nữa.

Một định hướng

Trong quá trình tìm hiểu, ta sẽ thấy rằng Tân Ước không nhìn tiền bạc như một điều xấu tự thân, mà như một công cụ mang giá trị hai mặt. Tùy vào cách thế nó được sử dụng mà nó sẽ đem lại hậu quả tốt hay xấu. Do đó, những khiển trách và những căn dặn ta sẽ thấy trong giáo huấn của Tân Ước thường nhằm vào những người chủ sở hữu, vốn là những người phải chịu toàn bộ trách nhiệm về việc sử dụng của cải của mình. Thật vậy, với một vài điển hình nêu trên ta có thể rút ra một nhận định rằng: Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là những chỉ dẫn về chủ đề của cải tiền bạc, phải được đọc trong khung cảnh của chúng và trong toàn bộ bộ Thánh Kinh, phải tìm hiểu tường tận đến mức có thể, trong khi không được lơi là việc chiêm niệm các Lời đó. Ðiều này thật khó và rất tinh tế. Cần phải kiên nhẫn và thận trọng hầu có thể tìm hiểu được cách tường tận đến mức có thể, và hầu có được một cái nhìn chính xác hơn và quân bình hơn theo tinh thần của các giáo huấn này.

Ðể tiện theo dõi các giáo huấn của Tân Ước về chủ đề chúng ta quan tâm, cách có hệ thống, xin đề nghị tìm hiểu lần lượt: trước hết, Ðức Giêsu với các giáo huấn của Ngài, bằng các dụ ngôn và các chỉ dẫn trực tiếp, khởi đi từ những kinh nghiệm cụ thể của Ngài có được trong cuộc sống xã hội thời Ngài (qua những quan sát, những chất vấn người ta đặt ra cho Ngài và cả những khinh nghiệm sống thiêng liêng của Ngài nữa); và tiếp đến là những khuyến dụ của các Tông đồ và các vị có trách nhiệm giảng dạy Dân Mới của Thiên Chúa, khởi đi từ những thực hành trong đời sống cộng đoàn với những vấn đề của nó.

Vậy trước hết ta sẽ tìm hiểu về các trình thuật nói về các hành động và phản ứng của Ðức Giê-su khi Ngài quan sát những thực hành liên quan đến tôn giáo của những người đồng thời với Ngài. Trình thuật đầu tiên mà ta quan tâm sẽ là việc Ngài xua đuổi những người đang buôn bán trong Ðền thờ.





An Thụ




Bài 14

Của Cải Trong Kinh Thánh

Ðức Giêsu Với Việc Buôn Bán Trong Ðền Thờ

I - VÀI ÐIỂM KHỞI ÐẦU

Ðền thờ

Ðền thờ Giê-ru-sa- Lem là nơi thờ phượng chính thức duy nhất của dân Ít-ra-en, là nơi mà chính Thiên Chúa đã chọn để tôn kính Danh Người, từ thời vua Ða-vít. Ðền thờ là nơi Thánh cho toàn Dân, là nơi cầu nguyện, mà ở đó, theo niềm tin Cựu Ước, mỗi người tín hữu có thể gặp gở được chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, cũng nên biết rằng đã có lúc Thiên Chúa đã tuyên bố rời bỏ ngôi Ðền thờ bằng gỗ đá đó để đồng hành với Dân Ngài đến đất lưu đày Ba-by- Lon, vào năm 587 TCN.

Ðền thờ là nơi nhóm họp đại hội toàn Dân vào dịp các Ðại Lễ tôn kính Đức Chúa; và cũng là nơi quan trọng của Dân Ít-ra-en về mặt tôn giáo, văn hóa, chính trị và cả kinh tế nữa. Ta được biết, theo lệnh của Thiên Chúa, mỗi người nam Do Thái phải trẩy hội ba lần một năm để trình diện trước nhan Đức Chúa (xin xem Xh 23,17; 34,23) vào các dịp Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều.

Theo trình thuật nào?

Câu chuyện về việc Chúa Giê-su xua đuổi những người buôn bán khỏi khuôn viên Ðền thờ, mà ta sẽ tìm hiểu dưới đây, được cả bốn tác giả Tin Mừng kể lại. Tuy nhiên, nơi mỗi vị có một nét đậm khác nhau. Do đó, bối cảnh của câu chuyện cũng không tương đồng nhau tùy theo cách trình thuật của mỗi vị. Nhưng ta sẽ không chú tâm vào việc so sánh các khác biệt của các trình thuật cũng như mục đích của mỗi vị, mà chỉ quan tâm tìm hiểu về những điểm có liên quan đến chủ đề "của cải vật chất".

Ðể thực hiện mục tiêu này, chỉ xin chọn trình thuật theo thánh Gio-an là trình thuật cho ta nhiều chi tiết hơn cả, và chúng có liên quan khá nhiều đến chủ đề này. Thật vậy, chỉ có bài trình thuật của thánh Gio-an chúng ta mới thấy những ghi chú về phản ứng và các cử chỉ của Ðức Giê-su khi Ngài chứng kiến quang cảnh khu vực Ðền thờ lúc đó, còn ba tác giả kia chỉ ghi nhận sự kiện này với mục đích làm lộ rõ sự căng thẳng mang lại do hành vi này của Ðức Giê-su, điều mà Thánh Gio-an cũng muốn nhấn mạnh, đó là sự căng thẳng giữa các nhà lãnh đạo Do Thái giáo với Thầy của mình.

Vậy, ta sẽ phân tích trình thuật theo thánh Gio-an. Trình thuật này có thể được coi là bản văn duy nhất của ngài có đề cập khá rõ về chủ đề tiền bạc, trong đó ngài nhìn chúng dưới một góc nhìn tiêu cực. Và ta sẽ tạm để qua một bên ba tác giả kia là những vị vốn cho nhiều chỉ dẫn hơn về chủ đề này trong nhiều trình thuật khác, nhất là thánh Lu-ca, mà ta sẽ tìm hiểu về sau, với các vị này tiền bạc được nhìn dưới một góc nhìn tích cực hơn.

Trình thuật theo thánh Gio-an và bối cảnh của nó

Ðể tiện cho qúy độc giả theo dõi, xin trích ra đây toàn bộ trình thuật theo thánh Gio-an: Gần đến lễ Vượt Qua của người Dothi, ức Gisu ln thnh Girusalem. Người thấy trong ền Thờ cĩ những kẻ bn chin, bị, bồ cu, v những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dy lm roi m xua đuổi tất cả bọn họ cng với chin bị ra khỏi ền Thờ; cịn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, v lật nho bn ghế của họ. Người nĩi với những kẻ bn bồ cu: "em tất cả những thứ ny ra khỏi đy, đừng biến nh Cha tơi thnh nơi buơn bn". Cc mơn đệ của Người nhớ lại lời đ chp trong Kinh Thnh:

Vì Nhiệt tâm lo nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân

Người Dothi hỏi ức Gisu: "Ơng lấy dấu lạ no chứng tỏ cho chng tơi thấy l ơng cĩ quyền lm như thế?" ức Gisu đp: "Cc ơng cứ ph hủy ền Thờ ny đi; nội ba ngy, tơi sẽ xy dựng lại". Người Dothi nĩi: "ền Thờ ny phải mất bốn mươi su năm mới xy xong, thế m nội trong ba ngy ơng xy lại được sao?" Nhưng ền Thờ ức Gisu muốn nĩi ở đy l chính thn thể Người. Vậy, khi Người từ ci chết chỗi dậy, cc mơn đệ nhớ lại Người đ nĩi điều đĩ, Họ tin vo Kinh Thnh v lời ức Gisu đ nĩi. (Ga 2,13-22)

Khác với ba tác giả Tin Mừng nhất lãm, thánh Gio-an đã đặt sự kiện này vào thời gian đầu sứ vụ công khai của Ðức Giê-su. Nó được lồng trong khung cảnh của lần đầu tiên Ngài lên Giê-ru-sa- Lem để dự lễ Vượt Qua, tức khoảng sáu tháng sau khi Ngài nhận thanh tẩy bởi Gio-an Tẩy Giả. Dường như, thánh Gio-an muốn đặt vào ngay từ những ngày đầu, khi Ðức Giê-su vừa bước vào sứ vụ công khai, vấn đề gay cấn giữa Ngài với những nhà lãnh đạo tôn giáo của Dân Ít-ra-en (điều mà chỉ có mình thánh Mác-cô nói rõ - xin xem Mc 11,18). Sự gay cấn đó bắt nguồn, dĩ nhiên, từ xung đột về vấn đề tôn giáo và, đồng thời, cũng là vấn đề kinh tế nữa.

II - "NGÀI XUA ÐUỔI HỌ", TẠI SAO? THẾ NÀO?

Theo Thánh Gio-an, vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà ngay từ những ngày đầu ra hoạt động công khai, Ðức Giê-su đã không thể nhân nhượng khi giáp mặt với sự lạm dụng tôn giáo để làm thương mại. Hành vi này của Ðức Giê-su là một phản ứng rất mạnh của Ngài khi quan sát thấy rằng những thực hành tôn giáo của Dân Ngài đã bị lạm dụng một cách trầm trọng. Về những quan sát của Ðức Giê-su, ta sẽ còn có dịp gặp thấy sau này, trong số đó có một trường hợp khác mà bài tiếp theo sẽ nói tới: một bà goá đã dâng cúng hai đồng xu cuối cùng của bà.

Cũng theo thánh Gio-an, những thái độ và lời nói của Ðức Giê-su được kể ở đây đã gây một ấn tượng đáng kể nơi các môn đệ ngay từ những ngày đầu. Ta nghe Thánh sử thú nhận rằng, sau này, khi Chúa Giê-su đã phục sinh từ cõi chết, các môn đệ sẽ nhớ lại những gì Thầy đã nói ngày hôm đó (Ga 2,22).

Tuy nhiên, như đã nói, điều chúng ta quan tâm là những chi tiết liên quan đến cái nhìn về tiền bạc của vị tác giả này. Do đó, ở đây, ta sẽ chỉ chú ý đến phần mô tả về phản ứng của Ðức Giê-su mà thôi. Vậy, ta sẽ phân tích sự kiện này theo bố cục sau: phần dẫn nhập, việc Ðức Giê-su quan sát thấy những gì đang diễn ra khi Ngài đến Ðền thờ (Ga 2,13-14); kế đến, sự mô tả hành vi nỗi giận thật bất ngờ của Ngài (Ga 2,15); và, sau cùng, lời khiển trách của Ngài với những người bán bồ câu (Ga 2,16).

1. Ðền thờ hay chợ?

Về điểm thứ nhất này, ta chỉ đọc thấy một câu ngắn gọn với cấu trúc thật đơn giản mô tả việc Ðức Giê-su quan sát thấy hiện tình Ðền thờ lúc đó: [Gần đến lễ Vượt Qua của người Dothi, ức Gisu ln thnh Girusalem.] Người thấy trong ền Thờ cĩ những kẻ bn chin, bị, bồ cu, v những người đang ngồi đổi tiền. (Ga 2, 13-14).

Trước hết, một nhận định ban đầu, dường như không mấy lô-gích khi mô tả việc Ðức Giê-su quan sát thấy có những người buôn bán trong Ðền thờ như một nhập đề cho việc Ngài nổi giận, và hậu quả tiếp theo là hành vi Ngài xua đuổi họ. Có vẻ như có gì gượng ép chăng? - Theo thiển ý thì không. Ðể hiểu được điều này, có lẽ ta cần phải tìm hiểu cách chính xác xem thế nào là buôn bán trong Ðền thờ, điều mà cả bốn tác giả đều xác định. Ta sẽ khảo sát về cấu trúc của Ðền thờ.

Ðền thờ nào? Cấu trúc ra sao?

Ngôi Ðền thờ được nói tới ở đây là ngôi đã được xây dựng lại lần thứ ba dưới thời vua Hê-rô-đê. Theo các nghiên cứu, cấu trúc của ngôi Ðền thờ Giê-ru-sa- Lem thứ ba này có diện tích lớn gấp đôi ngôi đền thứ hai, ngôi đền đã bị phá hủy vào thời anh em nhà Ma-ca-bê. Nó được chia làm hai khu: khu nội vi và khu ngoại vi. Trong khu vực nội vi, người ta đã lấy lại sơ đồ cơ bản của hai ngôi đền trước, với hai khu Cực Thánh và khu Thánh được tách biệt bởi một bức Trướng. Khu Cực Thánh, mà xưa kia là chỗ đặt Hòm Bia Giao Ước, chỉ có vị Thượng Tế được vào mỗi năm một lần mà thôi. Khu Thánh, nơi đặt bàn thờ phục vụ việc xông hương và dâng bánh tiến lên Thiên Chúa, nơi mà chỉ có các vị Tư tế được vào thi hành nhiệm vụ theo phiên trực.

Ngoài ra, còn có một số kiến trúc khác được thêm vào so với hai ngôi đền trước kia (nhưng chúng không phải là điều ta quan tâm ở đây). Khu vực ngoại vi, với nhiều chi tiết được thêm vào, cũng được nới rộng thêm so với mô mẫu trước kia; trong khu vực này, bàn thờ phục vụ cho việc sát tế các hy lễ chiếm vị trị quan trọng nhất, nó được tách biệt với một sân lớn là nơi cầu nguyện dành cho các tín hữu. Sân này được ngăn làm đôi bởi một bức tường có cửa thông qua lại: phần sân phía tây, gọi là khu dân Ít-ra-en, chỉ dành riêng cho những người đàn ông Do Thái; phần sân phía đông, gọi là khu phụ nữ, dành cho các phụ nữ Do Thái.

Sân này được một bức tường ngăn cách với một sân khác được gọi là khu chư dân, là nơi những khách ngoại kiều có thể đặt chân đến. Chung quanh đó là một tường thành bao bọc toàn bộ khu vực Ðền thờ để ngăn cách với khu vực bên ngoài. Khu chư dân của ngôi Ðền thờ thứ ba này có chu vi dài đến 1110 mét, khu vực này được lót đan và có nhiều trang trí điêu khắc cùng với nhiều cột trụ, đó là nơi mà những người buôn bán và đổi tiền được phép hành nghề, đương nhiên là dưới sự kiểm soát và quản lý của những người cai quản Ðền thờ. Ðó chính là nơi đã xảy ra sự kiện mà ta đang tìm hiểu.

Không còn đại lễ. Một cuộc họp chợ

Một điểm lưu ý khác, để thuận tiện cho các thực hành tôn giáo theo như luật dạy, phần lớn khách hành hương đến từ xa cần các dịch vụ cung cấp chiên, dê, bò và bồ câu cho việc dâng lễ tế. Thật vậy, chúng cần thiết. Và cùng với chúng, dịch vụ đổi tiền để phục vụ cho các trao đổi buôn bán, cho việc trích nộp thuế má hoặc việc dâng cúng vào Ðền thờ cũng phát triển theo.

Loại thứ hai chỉ là các dịch vụ ngoại hối (theo ngôn từ hiện đại) không có liên quan trực tiếp đến các nghi thức tôn giáo, chúng chỉ là các hoạt động tài chính và kinh tế. Cũng xin lưu ý rằng đây không phải là những dịch vụ đổi các đồng tiền đang lưu hành hợp pháp trong lãnh thổ Ít-ra-en hoặc trong khu vực thành loại tiền đặc biệt của Ðền thờ. Vì, giả thuyết cho rằng Ðền thờ Giê-ru-sa- Lem, vào thời đó, sử dụng một loại đồng tiền đặc biệt không còn đứng vững.

Với cách tường thuật như trên, dường như thánh Gio-an có ý phân biệt giữa hai loại hình dịch vụ khác nhau như ta vừa nói trên: một loại nhằm giúp dễ dàng hoá cho các nghi lễ mà luật lệ đòi buộc, nó gắn liền với các nghi thức tế tự của Ðền thờ; một loại khác chỉ đơn thuần là những hoạt động kinh doanh tiền tệ. Loại thứ hai đã bị thánh Gio-an kết án không khoan nhượng qua việc mô tả thái độ của Ðức Giê-su: lật đổ bàn ghế và hất tung tiền bạc của những người đổi tiền.

Còn loại thứ nhất, nếu chúng đã được thực hiện theo đúng mục đích nói trên kia, có lẽ đã chẳng có vấn đề. Nhưng không, vì ta có thể hình dung ra rằng trong bối cảnh của Ðại lễ Vượt Qua, một lễ hội hàng đầu của Dân mà hầu hết mọi tín hữu Do Thái đều trẩy hội Nhà Chúa, ngày hôm đó khu chư dân của Ðền thờ, có lẽ, đã thật sự biến thành một khu chợ đúng nghĩa: vừa ồn ào náo nhiệt vừa hổn loạn với bao nhiêu là cuộc trao đổi mặc cả, và chắc cũng không thiếu những chuyện không hay khác.

Nếu đúng vậy, trong khu vực Ðền thờ, vào thời điểm hôm đó, chắc là không còn mấy chút trật tự tối thiểu của một nơi thờ phượng. Có chăng chỉ xót lại cái khu vực nhỏ bé dành riêng cho việc cầu nguyện và tế lễ đã bị lọt tỏm vào giữa đám hỗn độn bao quanh. Thật vậy, chỉ cần đến như thế là quá đủ để làm át mất tâm tình vui tươi và cầu nguyện cần thiết của toàn dân trong ngày Ðại Hội Kính Gia-vê. Nói cách khác, thực hành tôn giáo của Ðại Lễ Vượt Qua vốn mang tính lễ hội tôn giáo, dân tộc và quốc gia đã bị chìm ngập trong các hoạt động kinh tế thương mại vô cùng bát nháo.

Thiết tưởng, chính trong một khung cảnh như vậy mà cơn giận của Ðức Giê-su đã bộc lộ. Và nằm ở đó lời giải thích về mối liên hệ trực tiếp và tức thì giữa sự giận dữ của Ðức Giê-su với việc Ngài quan sát thấy những gì đang diễn ra vào lúc đó. Nói cách khác, các tác giả Tin Mừng không hề thiếu tính lô-gích cũng như không hề gượng ép khi đặt liền nhau hai hành động thấy và nỗi giận của Ðức Giê-su.

Ngoài ra, các loại hình hoạt động được liệt kê ra [những kẻ] bn chin, bị, bồ cu, v [những người đang ngồi] đổi tiền cũng nói lên rất nhiều điều khác nữa. Nhưng, thiết tưởng, không cần phải đào sâu thêm các chi tiết đó, ta sẽ chỉ nói về ba thái độ của Ðức Giê-su.

2. Ba thái độ của Ðức Giê-su

Về điểm thứ hai, chỉ có thánh Gio-an ghi lại chi tiết các thái độ và cử chỉ của Ðức Giê-su. Ta đọc thấy: Người liền lấy dy lm roi m xua đuổi tất cả bọn họ cng với chin bị ra khỏi ền Thờ; cịn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, v lật nho bn ghế của họ. Người nĩi với những kẻ bn bồ cu: "em tất cả những thứ ny ra khỏi đy, đừng biến nh Cha tơi thnh nơi buơn bn" (Ga 2,15-16). Như đã nói trên kia, thánh Gio-an cố ý tách rời hai loại dịch vụ: buôn bán thú vật và đổi tiền. Tuy nhiên, ở đây, ta còn thấy thêm một phân biệt nữa, cũng của thánh Gio-an, đó là tách những người bán bồ câu khỏi những người buôn bán chiên bò. Vì vậy, ta có thể kể đến ba thái độ khác nhau trong hành vi của Ðức Giê-su:

Thái độ thứ nhất, đuổi tất cả những người buôn bán ra ngoài, và cả chiên bò của ho nữa. Ðức Giê-su, dường như, đã không chấp nhận cho hoạt động buôn bán như thế được tiếp tục tồn tại trong khu vực Ðền Thánh, vốn là nơi cầu nguyện: nhà Cha Ngài. Nhưng ta không có thêm chi tiết về điểm này để có thể bàn rộng hơn, chỉ biết là thánh Gio-an đã phân biệt nó với hai loại hoạt động kia.

Thái độ thứ hai, hất tung tiền bạc của những người hành nghề đổi chác, và lật nhào bàn ghế của họ. Qua sự kiện xua đuổi những người buôn bán trong Ðền thờ, ở đây thánh Gio-an, cũng như hai thánh Mát-thêu và Mác-cô, dường như muốn nói rằng tiền bạc không có giá trị gì đáng kể mà, trái lại, chúng chỉ đáng khinh. Cách thánh Gio-an mô tả thái độ của Ðức Giê-su như trên cho thấy rõ hàm ý này. Trong khi đó, thánh Lu-ca dường như cố tình tránh cách nói tương tự như các vị kia. Thật vậy, ta thấy, ngài là tác giả Tin Mừng duy nhất chỉ kể ngắn gọn toàn bộ trình thuật về sự kiện này như sau: ức Gisu vo ền Thờ, Người bắt đầu đuơi những kẻ đang buơn bn v nĩi với họ: " cĩ lời chp rằng: "Nh Ta sẽ l nh cầu nguyện, thế m cc ngươi đ biến thnh so huyệt của bọn cướp!" (Lc 19,45-46).

Và, thái độ thứ ba, lên tiếng khiển trách những người buôn bán bồ câu. Ngài nói với những kẻ bn bồ cu: "em tất cả những thứ ny ra khỏi đy, đừng biến nh Cha tơi thnh nơi buơn bn" (Ga 2,16). Ðó chính là điểm thứ ba mà ta sẽ đào sâu thêm dưới đây.

3. Cũng chuyện người nghèo

Về điểm thứ ba, theo thánh Gio-an, lời khiển trách của Ðức Giê-su chỉ nhằm đối diện với những người bán bồ câu như ta vừa nghe. Theo luật Mô-sê, những con chim bồ câu, hoặc loài chim gáy, được dùng để phục vụ cho nghi lễ tẩy uế của các phụ nữ sau khi sinh con (xin xem Lv 12,1-8). Theo đó, khi hết thời hạn bị coi là bị nhiễm uế do sinh con, người mẹ phải đến trình diện vị tư tế để xin nhận nghi thức tẩy uế, và bà phải dâng một con bê một năm tuổi làm của lễ toàn thiêu và một con bồ câu làm của lễ đền tội. Và Luật cũng dự trù thêm rằng: nếu người ấy nghèo, không đủ tiền mua một con bê, thì có thể thay thế của lễ toàn thiêu bằng một con bồ câu, tức là phải dâng lễ vật bằng một đôi bồ câu. Câu chuyện về việc dâng Ðức Giê-su vào Ðền thờ, trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca, đã dùng lối mô tả các của lễ các Ngài dâng tiến là một đôi bồ câu để nói rằng Ðức Giê-su và Mẹ Ngài được kể là những người nghèo (xin xem Lc 2,22-24).

Dịch vụ cung cấp bồ câu cho các nghi thức này, có lẽ, cũng đã bị lạm dụng đến nỗi Ðức Giê-su đã phải lên tiếng khiển trách: "em tất cả những thứ ny ra khỏi đy, đừng biến nh Cha tơi thnh nơi buơn bn" (Ga 2,16). Thực ra nó đến mức nào thì ta không rõ, nhưng chắc là không phải là không trầm trọng. Ta sẽ lưu ý hai điểm: thứ nhất, khác với hai thánh Mát-thêu và Mác-cô, ở đây Gio-an đã tường thuật lại lời của Ðức Giê-su theo một hình thức khác, chứ không theo cách trích dẫn lại hai câu Cựu Ước (như hai vị kia đã làm, ta sẽ nói đến dưới đây). Câu nói trên rõ ràng nhằm chống lại việc buôn bán trong đền thờ một cách cụ thể như họ đang làm. Vâng, ngay cả việc buôn bán cũng đã bị thánh Gio-an xếp vào hàng những điều đáng để lên án. Tại sao? Ðiểm thứ hai sẽ cho câu trả lời.

Thứ hai, ta có thể hình dung rằng, qua dịch vụ buôn bán những con bồ câu, những người nghèo đã bị trở nên những miếng mồi ngon cho những tay buôn bán. Vì như ta vừa thấy một đôi chim bồ câu vốn là lễ vật dâng cúng của những người nghèo không đủ tiền để dâng một con bê. Giá cả của những con bồ câu chắc không đáng là bao nhưng, có lẽ, chúng đã được bán cho người nghèo theo cách lợi dụng thời cơ, nghĩa là với một sự ngã giá không nhân nhượng, chỉ cốt thu được nhiều lợi nhuận hơn mà thôi

Thường ta thấy có hai xu hướng chuyển động của giá cả trong những thời kỳ có các hội chợ và lễ hội. Xu hướng thứ nhất, giá cả giảm dần vào thời điểm kết thúc hội chợ. Có nghĩa là, vào mấy ngày đầu hội chợ, hàng hoá được bán với giá ổn định và cao hơn, rồi dần dần đến những ngày kết thúc những nhà buôn hạ giá dần nhằm bán cho hết hàng hoá còn tồn đọng lại. Xu hướng thứ hai, đi theo chiều ngược lại, giá cả sẽ càng tăng một cách cơ hội vào những thời điểm càng gần thời điểm chính thức bắt đầu lễ hội.

Có nghĩa là, vào lúc khai mạc lễ hội, theo truyền thống thì các nghi thức phải được thực hiện giống nhau, đó là lúc mọi người đều cần một số mặt hàng như nhau để phục vụ cho các nghi thức, một số nhà buôn biết tính toán sẽ chuẩn bị sẵn các loại hàng hoá đó và tung ra bán chúng với một giá rất chắc. Và họ còn thay đổi giá cả của cùng một mặt hàng tuỳ theo tính cấp bách nhận thấy nơi người mua. Lúc đó, giá cả hàng hoá không còn dựa trên quan hệ cung cầu hay trên giá trị của hàng hoá nữa, mà là căn cứ vào mức độ khẩn thiết của người mua. Một thứ lợi dụng thời cơ.

Ta có thể hiểu rõ hơn xu hướng thứ hai này khi có dịp đến các phố chợ vào những ngày cận tết, lúc mà những người nghèo, vào những giờ phút chót, buộc phải mua một số thứ cần thiết cho mấy ngày lễ tết. Vì họ vốn không có thừa tiền để mua dự trữ trước những cái đó, là những loại hàng hoá phục vụ cho các thực hành mang tính cách văn hoá dân tộc như: đôi nén nhang, vài chậu kiểng, một cành mai, ít thịt thà, dăm ba ký nếp, một cân trà, v.v. Ðó là những thứ không thể thiếu được trong những ngày lễ tết. Bên cạnh đó, với tâm tình đơn sơ và chân thành của họ, trong việc thực hành những phong tục tập quán như thế, những người nghèo này không muốn so đo, ngay cả khi phải mua với giá cả đắt hơn một chút. Trong khi đó, không ít những người bán hàng chẳng ngại chém sát sườn. Thật vậy, vì cùng những mặt hàng đó, mà chỉ cách mấy ngày trước, những người có dư tiền có thể mua với giá hạ hơn. Vâng, nó không còn là một dịch vụ nữa mà là một thứ lợi dụng thời cơ. Và chính những người nghèo là nạn nhân.

Ðể minh chứng thêm cho lập luận rằng các trình thuật kể về các hoạt động buôn bán nơi Ðền thờ có hàm ý về việc người nghèo đã bị trở nên miếng mồi ngon cho các tay buôn bán, ta hãy trở lại hai câu trích Cựu Ước được đặt vào miệng Ðức Giê-su, theo trình thuật của Mát-thêu 21,13 (cũng như nơi Mác-cô 11,17): Nh Ta sẽ được gọi l nh cầu nguyện (Is 56,7) mà đã bị biến thành so huyệt của bọn cướp (Gr 7,11). Câu thứ hai được trích từ những lời của Ngôn sứ Giê-rê-mi-a có liên quan đến vần đề người nghèo. Thật vậy, như ta đã có dịp bàn về vấn đề khai thác người nghèo mà các ngôn sứ đã phải lên tiếng trong phần tìm hiểu về giáo huấn của Cựu Ước trong các bài trước đây, một cách tương tự, Ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng đã đặt câu nói trên trong một bối cảnh rằng Dân Chúa đã lộ rõ sự bất trung của họ qua việc thờ kính các thần ngoại bang và bên cạnh đó việc áp bức người nghèo không phải là không bị đặt thành vấn đề (xin xem Gr 7,1-11).

III - NHƯNG, CHỐNG LẠI AI?

Hành động xua đuổi những người buôn bán trong khuôn viên Ðền thờ này của Ðức Giê-su không chỉ đơn thuần là một phản ứng mang chiều kích bề mặt nỗi nhằm chống lại các hoạt động thương mại đã lợi dụng các thực hành tôn giáo của các nhà buôn, mà sâu xa hơn nhiều, nó nhằm chống lại cả một tổ chức đứng phía sau đó. Ðiều này cũng có liên quan đến nền tảng của việc thờ phượng Thiên Chúa. Thật vậy, nó đã đụng chạm đến cả một hệ thống quyền lực tôn giáo và kinh tế (có liên quan cả đến chính trị nữa) mà đã không ngại khai thác thế mạnh kinh tế của Ðền thờ và các hoạt động tôn giáo để trục lợi. Hệ thống tổ chức đó bao gồm nhiều thế lực khác nhau, đạo lẫn đời cấu kết với nhau.

Thật vậy, các tác giả Tin Mừng, nhất là thánh Mác-cô, đã ghi nhận rõ nét phản ứng của giới lãnh đạo tôn giáo, vốn giữ trách nhiệm quản trị khu vực Ðền thờ, khi họ nhận ra tác động của hành vi của Ðức Giê-su đã đụng đến uy tín tôn giáo của họ, nơi các qui chế thực hành tôn giáo mà họ đang nắm (xin xem Mt 21,15) đồng thời, có lẽ, cũng đụng đến quyền lợi kinh tế, mà chắc là họ được chia phần trong các hoạt động thương mại nơi khu vực Ðền thờ. Chính vì vậy, sự xung đột đã lên đến mức họ đã quyết định giết Ðức Giê-su, nhưng chưa thể được vì họ còn e về uy tín của Ngài đang rất mạnh trên dân chúng (xin xem Mc 11,18).

Còn về phía quyền đời, ta đã thấy rằng ngôi đền thứ ba này đã được xây dựng dưới triều vua Hê-rô-đê với nhiều thêm thắt so với mô mẫu truyền thống, đặc biệt là với một khu chư dân rất rộng lớn, nơi phục vụ cho các hoạt động kinh tế thương mại, mà chắc chắn là nhà vua và các quan chức của ông không thiếu phần lợi trong đó. Có lẽ chính vì thế mà ta còn nghe thánh Lu-ca nói đến không chỉ các nhà lãnh đạo tôn giáo mà cả các giới thế lực và giàu có trong dân cũng muốn tìm cách giết Ngài (Lc 19,47).

ÐỂ KẾT

Qua sự kiện Ðức Giê-su xua đuổi những con buôn ra khỏi Ðền thờ, ta đã có dịp thấy rõ thêm về thiên hướng của mỗi tác giả Tin Mừng liên quan đến chủ đề tiền bạc. Mặt khác, phía sau đó là chủ đề lợi dụng tôn giáo để thu lợi, mà nhất là thu lợi trên sự lợi dụng nỗi yếu thế của người nghèo, là một vấn đề xã hội thật trầm trọng mà Thánh Kinh không ngừng lên tiếng chống lại.

Tiền bạc, theo cái nhìn của thánh Gio-an, cũng như của hai Thánh Mát-thêu và Mác-cô, trong bối cảnh câu chuyện trên, qua hành động của Ðức Giê-su, đã bị đánh giá là đáng khinh chê. Tuy nhiên, đối với thánh Lu-ca, ta có một cái nhìn khác. Ðiều mà ta sẽ thấy trong bài tiếp theo bàn về trình thuật một bà goá nghèo dâng cúng cho Ðền thờ hai đồng xu.





An Thụ




Bài 15

Của Cải Trong Kinh Thánh

Hai đồng xu của bà goá nghèo, cho với lòng quảng đại

1. Hai tác giả, hai góc nhìn

Nếu như, trong bài trước, ta đã có dịp tìm hiểu về việc Ðức Giê-su quan sát thấy hành vi thờ phượng Thiên Chúa đã bị lợi dụng để tiến hành các hoạt động thương mại, điều đã diễn ra trong khu chư dân của đền thờ; thì ở đây ta sẽ thấy một quan sát khác của Ngài về cách người ta bỏ tiền dâng cúng cho Ðền thờ, sự việc này có lẽ cũng diễn ra trong khu chư dân, hoặc giả là trong khu vực phụ nữ. Thật vậy, tuy các sách Tin Mừng không nói rõ là ở khu vực nào trong Ðền thờ, nhưng sự hiện diện của bà goá nọ cho ta một chỉ dẫn rằng sự kiện không thể diễn ra trong khu vực dân Ít-ra-en, là nơi các phụ nữ bị cấm vào, và đương nhiên cũng không trong khu Thánh và Cực Thánh.

Câu chuyện này được thuật lại bởi hai tác giả Tin Mừng: Thánh Mác-cô và Thánh Lu-ca. Ðể đọc ra ý nghĩa liên quan đến chủ đề của cải của trình thuật này, thiết tưởng ta sẽ phải làm một so sánh cách nào đó giữa hai tác giả.

Như ta biết, Tin Mừng theo thánh Lu-ca có nhiều trích đoạn liên quan đến chủ đề tiền bạc, và ngài thường trình bày các sự kiện dưới một lăng kính giải thích nhiều hơn là tường thuật. Trong khi đó, thánh Mác-cô, một tác giả tường thuật các sự kiện cách cô đọng nhất, thường kể chuyện không theo tính cách văn vẻ, cũng không mấy quan tâm đến tính hợp lý của các sự kiện, do đó nhiều khi ta nhận thấy tính cách thô sơ, thậm chí đôi lúc còn có vẽ lộn xộn nữa, trong các trình thuật của ngài.

Câu chuyện về bà goá nghèo này được cả hai vị chèn vào một cách không mấy hợp lý trong văn cảnh của nó. Nó đi liền sau câu khiển trách của Ðức Giê-su hướng về mấy ông kinh sư rằng họ đã nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ cầu nguyện lâu giờ (Mc 12,40; Lc 20,47). Và nó được đặt trước lời tiên báo về sự sụp đổ của ngôi Ðền thờ (Mc 13,1-2; Lc 21,5-7). Ðó là điểm chung của hai tác giả. Tuy nhiên, cách trình thuật của hai vị cũng mang nhiều dị biệt.

2. Theo thánh Mác-cô

a. Từ một quan sát

Bài tường thuật của thánh Mác-cô đặt câu chuyện này vào cuối một chuỗi những giáo huấn mà Ðức Giê-su thực hiện nơi Ðền thờ. Có lẽ, nó là phần kết được thêm vào và được trình bày như một nhắc nhở "đầy "lưu ý của Ðức Giê-su đối với các môn đệ (điều này ta cũng thấy nơi thánh Lu-ca). Theo như lời kể của Mác-cô, sau khi kết thúc một loạt những giáo huấn của mình, Ðức Giê-su đã cố tình nán lại trong khu vực Ðền thờ để quan sát xem người ta bỏ tiền vào thùng ra sao, rồi nhân đó Ngài dạy riêng cho các môn đệ về cách thức nhận định mang tính chiều sâu liên quan đến việc này: Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình (Mc 12,43-44; cf. Lc). Về điểm này, thánh Mác-cô có vẻ hợp lý hơn Lu-ca.

Theo trình thuật của thánh Mác-cô, Ðức Giê-su, sau khi đã giảng dạy nhiều điều cho Dân trong Ðền thờ, Ngài ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Ðền thờ và quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao (Mc 12,41). Với quan sát này, Ngài đã thấy được điều sâu xa nơi hành vi của một bà goá nghèo, điều mà chẳng mấy ai chú ý (điều này khác với sự quan sát và việc nhận ra tính cách lạm dụng của những nhà buôn mà chúng ta đã thấy trong bài trước, cũng là điều mà những người khác không để ý).

b.Dám cho tất cả

Vâng, Ðức Giê-su cố ý thực hiện việc quan sát này để xem người ta dâng cúng cho Ðền thờ như thế nào. Rồi, Ngài đã nhận ra hành vi đáng kể của bà goá nghèo nọ: bà đã cho cả phần cần thiết của mình. Ta không có chỉ dẫn nào rõ hơn để biết xem rằng sau khi cho hết hai đồng xu cuối cùng của mình, số phận của bà sẽ ra sao (như trong trường hợp của một bà goá thời ngôn sứ Ê- Li-a, ngay dưới đây), nhưng ta biết chắc một điều là số tiền bà đã bỏ vào thùng là không đáng kể so với những người khác, và rằng đó chính là tất cả tài sản còn lại của bà.

Như ta đã biết, trong Thánh Kinh, những bà goá được coi là những người nghèo. Từ xa xưa, Luật của người Do thái luôn có những qui định nhằm bảo vệ các bà khỏi những lạm dụng quyền lực của những kẻ mạnh thế và những người giàu có. Ta có một câu chuyện khá quen thuộc khác kể về một bà goá nghèo thời ngôn sứ Ê- Li-a: bà đã chấp nhận nhường chút phần bánh cuối cùng của bà và con trai bà cho vị ngôn sứ; và rồi, một phép lạ đã được thực hiện: hũ bột không vơi và lọ dầu không cạn trong suốt thời kỳ hạn hán và đói kém trong vùng (xin xem 1V 17,7-16). Câu chuyện này có đôi nét gì tương đồng với điều Ðức Giê-su quan sát thấy ở đây: một bà goá nghèo không còn hy vọng sống còn qua thời kỳ hạn hán đói kém; theo yêu cầu của vị ngôn sứ, bà đã quyết định nhường cả chút phần ăn cuối cùng của mình và đứa con nhỏ cho vị ngôn sứ - có một chút gì là chua chát trong tình huống này -; và rồi phép lạ đã được thực hiện. Vâng, bà đã sẵn lòng nhường cho vị ngôn sứ đến cả chút phần lương thực cuối cùng của mình - đó chính là chút phương thế còn xót lại có thể kéo dài sự sống của bà và con trai bà thêm một thời gian ngắn. Cái mà bà đã cho, suy cho cùng, không phải chỉ là chút bánh nướng cuối cùng, mà hơn thế nhiều, đó chính là sự sống còn của bà và con trai bà, cho dù chỉ thêm được ít thời gian. Bà đã quyết định làm như thế với mục đích cứu sống người của Chúa, đó là một người nào khác mà bà nghĩ rằng người đó cần cho cuộc sống hơn là chính bà và con trai bà. Thật là cao cả. Vâng, trong hoàn cảnh hạn hán và đói kém như thế, một chút của ăn vật chất quả là quí giá để có thể sống còn lâu thêm, với hy vọng sẽ tìm được một lối thoát hoặc một trợ giúp nào khác. Ai cũng có thể biết và hiểu rõ điều này, nhưng có lẽ không có nhiều người đành lòng nhường phần của mình cho người khác.

Một vấn đề xã hội: lạm dụng lòng quảng đại

Việc dâng cúng cho Ðền thờ là một hành vi tôn giáo xã hội, như ta vừa nói trên, vốn là tốt đẹp nhằm phục vụ cho các công ích xã hội và tôn giáo, phục vụ con người, nhưng cái đẹp đẻ và cao cả vốn nằm ở phía xa hơn : dâng cúng với một ý hướng tốt, và quan trọng hơn nữa, chính là dám rút từ cái túng thiếu của mình mà cho (Mc 12,44; Lc 21,4), như bà goá nọ đã làm. Có lẽ, những người đã từng sống trong những khu xóm nghèo cảm được rõ hơn điều này: người nghèo dễ thông cảm với nhau và dễ chia sẻ cho nhau dù chỉ là chút gì họ có. Họ chia sẻ cho nhau không tính toán cũng như không điều kiện gì cả, chỉ đơn thuần là với lòng thương cảm họ chia sớt cho người lân cận, khi thấy người đó cần.

Tuy nhiên, khi nghe kể rằng bà goá nọ đã bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình, ta cũng cảm thấy có một chút gì đó xót xa. Dường như, thánh Mác-cô muốn gợi ý, cách nào đó, đến một vấn đề xã hội thời ngài. Vì, ta để ý thấy, ngay liền trước đó, Ðức Giê-su đã lên tiếng khiển trách các ông kinh sư đã từng nuốt hết tài sản của các bà góa (Mc 12,40; Lc 20,47). Tại sao lại là các kinh sư? Có lẽ chăng, trong khi giảng dạy Dân, họ đã nhấn quá mạnh đến việc dâng cúng cho Ðền thờ như là một điều thiết yếu mà người ta phải thực hiện hầu có thể được Thiên Chúa nhậm lời? Có lẽ chăng, điều đó đã được nhấn mạnh quá nhiều đến nỗi các bà goá nghèo, như ta vừa nghe kể, phải vắt cạn túi để dâng nộp cho Ðền thờ? Thật ra, ta không có chỉ dẫn nào rõ ràng về điểm này ngoài điều gợi ý trên của thánh Mác-cô. Tuy nhiên, đã có một cái gì đó không bình thường ở đây. Nếu hình ảnh bà goá mẫu mực thời ngôn sứ Ê- Li-a đã được sử dụng để nhấn mạnh và ép các bà goá của thời Chúa Giê-su phải đặt lên hàng đầu việc đóng góp cho Ðền thờ hơn cả những nhu cầu thiết yếu của họ và con cái họ, thì quả thật đó là một điều đáng phải lên tiếng. Và chính Ðức Giêu-su đã thực hiện rồi.

3. Ðiều quan trọng: lòng quảng đại

Tuy nhiên, một khía cạnh quan trọng hơn đã được hai thánh Mác-cô và Lu-ca làm nỗi bật, đó là tấm lòng quảng đại, và chỉ có tấm lòng quảng đại như thế mới là điều đáng kể dưới cái nhìn của Thiên Chúa, mà Ðức Giê-su đã không quên chỉ rõ. Nó có giá trị hơn nhiều so với những số tiền to lớn được dâng cúng. Nhưng ta cũng đừng quên rằng những khoảng đóng góp cụ thể bằng vật chất đó của những người giàu có, cho dù là họ chỉ rút ra từ của dư thừa của họ, vốn cũng cần thiết và thật hữu ích cho các hoạt động Ðền thờ. Chúng có giá trị nhất định của chúng. Thật vậy, Ðức Giê-su không hề phủ nhận sự hữu ích của các đóng góp này, Ngài chỉ làm một so sánh với một điều khác mang giá trị hơn, điều mà bà goá nọ đã thực hiện.

Thật sự mà nói, những người đã không ngại dâng cúng cho Ðền thờ vốn không phải là những người xấu. Họ đáng được coi là tốt vì họ đã nhìn nhận rằng của cải vật chất họ thu tích được vốn là do ơn lành của Chúa ban cho họ. Họ đáng được coi là tốt vì, với tấm lòng vừa chân thành vừa quảng đại, họ đã không ngại trích dâng cho Thiên Chúa, theo niềm tin của họ. Nếu ta so sánh họ với những người giàu chuyên khai thác người nghèo, vì họ luôn cảm thấy còn chưa đủ giàu (như ta đã có dịp nói đến trong các bài trước đây), thì quả thật, những người chúng ta đang nói tới cũng đáng được nể phục cách nào đó. Ðương nhiên, với tư cách là con người, cũng có những người dâng cúng vì chút hư danh, họ làm việc này với ý định khoe khoang và muốn được người đời nể trọng vì đã rộng tay đóng góp cho hoạt động chung, họ làm điều này không chỉ vì tấm lòng thành.

Qua đó, ta thấy rằng giá trị của của cải bạc tiền không phải là không đáng kể. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn nhiều chính là ở tấm lòng con người. Ðối với của lễ dâng cúng, không phải lễ vật và trị giá của nó, mà chính tấm lòng chân thành và quảng đại của con người mới là điều quan trọng và đáng kể.

4. Theo thánh Lu-ca

Bà goá nghèo, mẫu mực về lòng quảng đại

Trong khi đó, nơi thánh Lu-ca, ta thấy đã có một chuyển ý bất ngờ khiến ta có cảm giác là không có một liên hệ gì giữa câu chuyện này với những điều trước đó. Mặt khác, ngài cũng không đặt Ðức Giê-su vào trong tình trạng chú ý, mà chỉ mô tả rằng: Ngước mắt lên nhìn, Ðức Giê-su nhìn thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền (Lc 21,1) và nhân đó Ngài đã nhận thấy hành vi của bà goá nọ. Nếu thánh Mác-cô có ý cho một giải thích về điều khiển trách các ông kinh sư trong khi gắn câu chuyện này với phần trước của nó và tách rời nó với lời tiên báo theo sau, thì thánh Lu-ca dường như muốn làm ngược lại, ngài cắt câu chuyện này ra khỏi văn mạch của lời khiển trách liền trước và cố ý nối kết nó với lời tiên báo đi liền theo sau bằng câu dẫn nhập này: Nhân có mấy người nói về đền thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng. (Lc 21,5). Ðiều này dường như muốn cho thấy rằng thánh Lu-ca có ý đề cao nhiều hơn đến tấm lòng quảng đại của bà goá nọ (điều mà thánh Mác-cô cũng nhắm tới), nhưng ngài không có ý đặt liên hệ giữa nó với việc moi tiền của các vị kinh sư như thánh Mác-cô đã làm; đồng thời, thánh Lu-ca lại muốn đặt tấm lòng quảng đại của bà goá vào trong tâm khảm chung của toàn dân, nghĩa là ngài muốn nói về lòng quảng đại của Dân Chúa trong việc đóng góp cho các hoạt động tôn giáo, đặc biệt là Ðền thờ. Thật vậy, câu 21,5 liền theo sau câu chuyện, mà ta vừa trích, cho thấy rõ hơn điều này. Tuy nhiên, xin mở ngay một dấu ngoặc, rằng: tất cả những điều vừa được nói về của cải vật chất sẽ chẳng còn mấy giá trị, vì tự thân các công trình do tay con người làm ra vốn mang tính chất tạm thời, điều mà lời tiên báo về sự sụp đổ của ngôi Ðền thờ muốn gợi lên, ngay liền sau đó: Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào (Lc 21,6). Vì quả thật, điều quan trọng hơn không nằm ở những thứ mang tính cách vật chất đó, điều đáng kể chính là lòng quảng đại của con người thể hiện trong hành vi dâng cúng, nó cho thấy lòng tin yêu và thờ kính Thiên Chúa của họ, mà bà goá nọ được trưng dẫn như một mẫu mực.

Thật vậy, để có thể hiểu rõ hơn về điểm này, ta hãy trở ngược dòng thật xa đến một bản văn Cựu Ước liên quan đến chủ đề dâng cúng cho các hoạt động tôn giáo mà đoạn Tin Mừng đã gợi cho ta, đó là một tường thuật về sự đáp ứng quảng đại của Dân trước lời kêu gọi của Mô-sê trong việc quyên góp để xây dựng nơi Thờ Phượng kính Gia-vê (trong Xh 35,4tt; 36,2-7).

Lòng quảng đại của Dân. Vai trò tích cực của của cải vật chất

Khởi đi từ một điều hiển nhiên rằng tôn giáo tồn tại trong lòng xã hội. Ðể có thể duy trì và truyền bá tôn giáo, người ta cần những thừa tác viên chuyên nghiệp, là những người tự nguyện sẵn sàng dành cả đời mình phục vụ cho tôn giáo của họ cũng như cho cộng đồng những người cùng tín ngưỡng. Ðiều cần thiết và hợp lý là những thừa tác viện này nên được dành riêng để chuyên lo đến sứ vụ đó của mình, họ phải không được quá bận tâm về kế sinh nhai của chính bản thân.

Theo tinh thần phân công lao động xã hội, từ xưa, trong Do Thái Giáo, được kể lại trong Thánh Kinh, điều này đã được nhìn nhận và thực hiện dưới hình thức các loại đóng góp cho các hoạt động tôn giáo. Chúng xuất hiện qua các loại hình thuế. Thật vậy, trong Thánh Kinh Cựu Ước, ta thấy nói tới ba hình thức đóng góp: việc nộp thuế thân, là một thứ thuế nộp theo đầu người (trong Xh 30,11-16); việc quyên góp để xây dựng nơi Thờ Phượng (trong Xh 35,4tt; 36,2-7); và việc nộp thuế thập phân hàng năm (trong Ðnl 14,22-27.28-29; 26,12-15). Mục đích của chúng rõ ràng là nhằm bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được thực hiện liên tục và đều đặn bởi các thừa tác viên được chọn và, đặc biệt, loại thứ ba vốn là một hình thức tương trợ: vừa để duy trì hoạt động tôn giáo, vừa nhằm trợ giúp những người có nhu cầu trong xã hội như các thầy Lê-vi (là những người thuộc về chi tộc không được chia tài sản riêng như các nhóm khác trong Dân) và những người được coi là nghèo khổ, các trẻ mồ côi, bà goá và ngoại kiều (xin xem Ðnl 14; 26).

Ðiều đó cho thấy rằng tiền bạc và của cải vật chất giữ một vai trò đáng kể nào đó trong xã hội, không loại trừ xã hội tôn giáo. Nói cách khác, sự đóng góp của những tín hữu cho các công trình tôn giáo là điều cần thiết và chính đáng. Trình thuật về việc đóng góp của Dân Chúa cho công trình xây dựng Lều Tạm sẽ cho ta một khẳng định về điểm này. Thật vậy, để có thể xây dựng nơi Thờ Phượng để Thờ Kính Đức Chúa, một trong những điều cần thiết là sự đóng góp của các thành viên trong Dân. Vào thời Mô-sê, ông đã nhân danh Thiên Chúa mà kêu gọi Dân thực hiện điều này. Ðáp lại lời kêu gọi đó, họ đã rộng tay đóng góp nào là vật dụng, tư liệu, công sức lao động thủ công cũng như nghệ thuật, vàng, bạc và mọi thứ cần thiết khác. Với lòng quảng đại đó, họ đã đóng góp nhiều hơn rất nhiều so với nhu cầu đặt ra, và ông Mô-sê đã phải ra lệnh ngưng cuộc quyên góp (xin xem Xh 36,2-7). Bên cạnh đó, ta còn nghe nhiều mô tả về sự sang trọng và trang trọng của công trình Thờ Phượng Thiên Chúa, công trình đã được thực hiện sau cuộc quyên góp nói trên (xin xem Xh 36 - 39). Bản văn của Tin Mừng theo thánh Lu-ca muốn gợi lại cho ta cùng một điều như vậy, như ta vừa thấy trên kia (Lc 21,5). Quả thật, của cải vật chất do toàn dân đóng góp đã giúp cho dễ dàng hoá việc thực hiện các hoạt động mang tính tôn giáo. Nói cách khác, của cải vật chất, ở đây, có vai trò như một công cụ hữu ích cho hoạt động tôn giáo xã hội.

Tuy nhiên, nếu ta tiếp tục theo dõi các giáo huấn trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca, ta cũng sẽ thấy rằng, ngoài những chỉ dẫn có tính cách tích cực về của cải vật chất, ngài cũng không ngại phê bình những lạm dụng trong việc sử dụng tiền bạc, và thậm chí ngài còn kết án chính tiền bạc như là một tên lừa đảo. Chúng ta sẽ có dịp trở lại điều này trong các bài tiếp theo.

5. Ðể kết

Vậy, tiền bạc của cải được đóng góp cho hoạt động tôn giáo xã hội có giá trị nhất định của chúng, có điều là phải biết thực hành thế nào cho phải và với tấm lòng khiêm nhu và quảng đại.

Với hai lần quan sát của Ðức Giê-su, ta đã có dịp thấy hai mặt tiêu cực và tích cực của tiền của, điều mà Tân Ước muốn trình bày. Ta cũng sẽ thấy cùng một kết quả, khi ta tìm hiểu về các câu trả lời của Ðức Giê-su cho những người đến chất vấn Ngài về chủ đề này. Thật vậy, ta sẽ có dịp gặp nhiều loại hình chất vấn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng câu trả lời luôn mang cùng một ý nghĩa, có chăng chỉ khác nhau theo những cấp độ đặt điểm nhấn, hoặc theo những góc độ của vấn đề được đặt ra.





An Thụ




Bài 16

Của Cải Trong Kinh Thánh

Người thanh niên giàu có: tính ngăn trở của tiền bạc

Sau khi tìm hiểu trên "hai quan sát" có liên quan đến việc sử dụng của cải mà Chúa Giê-su đã thực hiện trong hai bài trước, và đã thấy trong Tân Ước có hai cái nhìn có thể gọi là đối lập nhau nhưng đồng thời bổ túc cho nhau về vấn đề tiền của: vừa cần thiết vừa gây cớ vấp phạm. Bây giờ, ta sẽ tìm hiểu trên "vài chất vấn" mà những người đồng thời đặt ra cho Ðức Giê-su, qua đó ta sẽ hiểu rõ hơn và cụ thể hơn một chút giáo huấn của Ngài cho vấn đề này. Ta sẽ lần lượt xem xét hai sự kiện sau: trình thuật về một người giàu có muốn theo Ðức Giê-su và chất vấn về việc nộp thuế cho Xê-da. Sau đó, ta sẽ trở lại câu kết luận gây ngạc nhiên của Ðức Giê-su về việc người giàu có khó vào được Nước Trời. Trong bài này, ta sẽ bắt đầu với câu chuyện về một người thanh niên giàu có đến hỏi Chúa Giê-su về cách thức để đạt đến sự sống đời đời (Mt 19,16-22; Mc 10,17-22; Lc 18,18-23).

I. MỘT CÁI NHÌN CHUNG TRÊN TRÌNH THUẬT

Theo trình thuật, có lẽ, anh thanh niên nọ đã nghĩ đến chiều kích thiêng liêng khi đặt câu hỏi với Ðức Giê-su: Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp (Mc 10,17 và song song). Vì theo quan niệm Do Thái vào thời Ðức Giê-su, niềm tin vào một hạnh phúc khác với hạnh phúc trần thế đã xuất hiện rồi. Thật vậy, qua câu hỏi, dường như, anh ta muốn tìm một con đường khác để đạt đến hạnh phúc đích thật cao siêu hơn so với các lệnh truyền của Mười Ðiều Răn, là những điều anh ta đã lo tuân giữ từ tấm bé (cf. Mt 18,18-20; Mc 10,19-20; Lc 18,20-21). Nói cách khác, anh ta đã nhận ra rằng mình còn thiếu cái gì đó, nghĩa là tất cả những điều anh ta đã chăm chỉ thực hiện cho tới lúc đó không đem lại cho anh ta một niềm hạnh phúc đích thực như lòng anh mong đợi. Tin rằng, với tư cách một bậc Thầy có những giáo huấn đặc nét và khác thường so với những gì anh ta đã được học, Ðức Giê-su sẽ cho anh ta một hướng dẫn có tính siêu việt hơn. Vì vậy, anh ta đã tìm đến Ngài để xin chỉ giáo.

Ðức Giê-su, Ðấng được sai đến để kiện toàn Lề Luật, đã khẳng định với anh ta rằng anh ta còn thiếu một điều quan trọng. Thật vậy, tuy Ngài không dạy thêm cho anh ta một điều gì mới lạ, nhưng Ngài đòi anh ta phải đạt đến cái chiều sâu thật sự của những gì anh ta đã học biết và tuân giữ, Ngài cho anh thấy rằng anh vẫn chỉ còn ở trên bề mặt nổi của những giáo huấn lề luật mà thôi. Ðiều anh ta còn thiếu, đó là đi cho đến cùng của cùng việc tuân giữ luật mà anh ta đã từng làm. Vâng, cần phải đi cho đến tận chiều sâu, chiều rộng và chiều cao thực sự của những điều răn dạy đó. Chỉ khi đó, anh ta mới đụng đến được chính Sự Sống của một Thiên Chúa Tình Yêu. Và đó mới chính là hạnh phúc thật con người cần phải tìm. Theo câu chuyện, Ðức Giê-su đã đẩy anh ta trở lại giữa những điều thật cụ thể và thông thường trong cuộc sống trần thế: bán của cải đi, bố thí cho người nghèo, trước khi trở lại đi theo Ngài. Với các thực hành đó, Ngài chỉ cho anh ta thấy đâu là điều quan trọng hơn hết: lòng nhân. Qua đó, cách gián tiếp, Ngài cho thấy rằng các thực hành tôn giáo mà anh ta từng làm, chúng vốn là tốt, nhưng vẫn còn ở lớp vỏ bọc mà thôi.

Ðáp lại lời mời gọi trên, anh ta đã tỏ thái độ buồn rầu, và hơn nữa quay mặt bỏ đi. Thay vì suy nghĩ và đón nhận nó như một kim chỉ nam thực sự cần thiết để định hướng lại cho các thực hành tôn giáo của mình, anh ta đã chọn "của cải" của mình hơn. Vì, nếu anh ta có tấm lòng yêu người thật sự, của cải sẽ phải ở hàng thứ yếu trong tâm khảm của anh ta, có nghĩa là anh ta sẽ không quá khó khăn trong việc từ bỏ chúng; nhưng đằng này, của cải đã chiếm chỗ quá lớn trong lòng anh ta, đến nỗi anh ta đã phải buồn sầu và bỏ đi, chỉ vì anh ta có nhiều của cải, một lý do chiếm vị trí hàng đầu. Anh ta đã chọn sự giàu sang vật chất hơn là sự sống đời đời, điều mà trước đó anh ta muốn tìm kiếm. Ðối với anh ta, kho tàng đích thực và thật sự quí giá chính là số tài sản khổng lồ anh ta có chứ không phải là sự sống đời đời.

II. CỦA CẢI VÀ HẠNH PHÚC

Liên quan cụ thể hơn đến vấn đề của cải, ta sẽ phân tích câu trả lời của Ðức Giê-su : Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi. (Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22; cf. Xh 20,12-16; Ðnl 5,16-20). Xin lưu ý, đây là câu trả lời cho một câu hỏi rõ ràng về việc làm thế nào để được sự sống đời đời. Các trình thuật của ba Tin Mừng nhất lãm về câu chuyện, cũng như về câu trả lời này, hầu như không mấy khác nhau, ngoài một vài chi tiết. Ta sẽ không làm một so sánh giữa các tác giả, chỉ xin đào sâu ý nghĩa của câu trả lời trên, nó ngắn gọn nhưng bao hàm cả một tiến trình để đạt đến hạnh phúc mà Ðức Giê-su đã mặc khải. Thiết tưởng, đó là điều cốt lõi của trình thuật để giúp nhận ra đâu là bản chất của của cải vật chất theo cái nhìn của Tin Mừng, một "đánh giá kép" về chúng: một mặt, chúng cần thiết và mang một giá trị nhất định; mặt khác, chúng gây cản trở đáng kể khiến người ta khó mà chọn lựa những gì khác với chúng, ngay cả hạnh phúc đích thật.

1.Giá trị của của cải vật chất

Theo cấu trúc của câu trả lời trên, của cải vật chất có giá trị riêng của chúng. Ðiều này được hàm chứa trong phần thứ nhất của câu trả lời: Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời, đây là pha thứ nhất trong tiến trình đạt đến hạnh phúc, trước khi chọn theo Thầy làm môn đệ. Trong đó, ta thấy có ba điểm đáng lưu ý.

a. Hãy đi bán tài sản của anh. Hoạt động kinh tế thương mại có chỗ ở đây. Như ta biết, người thanh niên nọ là một con người giàu và rất giàu. Một câu hỏi được đặt ra, tại sao lại phải bán tài sản. Sao không đem tài sản mà phân phát trực tiếp cho người nghèo, có phải là đơn giản hơn chăng? - Có lẽ chăng, trong xã hội thời đó, với một mức phát triển nhất định trong lãnh vực kinh tế thương mại, sự giàu có không chỉ thuần ở chỗ có nhiều tiền của. Cho nên, anh thanh niên kia không chỉ giàu vì có nhiều tiền bạc, chiên dê và lúa miến; có lẽ đúng hơn, anh ta giàu vì có nhiều cơ sở kinh tế thương mại. Ðiều này, có lẽ, đã khá phổ biến trong một xã hội thuộc Rô-ma khá phát triển thời đó, nó khác với sự giàu có được mô tả về các vị tổ phụ mà ta đã có dịp bàn tới.

Các tài sản thuộc loại kể trên không phải là những thứ người nghèo có thể trực tiếp sử dụng. Ðể phân phát cho người nghèo, phải chuyển đổi chúng thành những thứ tài sản thông dụng hơn có thể trực tiếp đổi lấy cơm bánh và y phục, cũng như những thứ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người mà những người khốn khổ cần trước mắt. Ðể được như vậy, quả là không đơn giản tí nào, trái lại còn rất phiền phức nữa. Ðối với anh nhà giàu kia, vấn đề không chỉ là để lại mọi thứ cho những người kế thừa, cũng không phải bỏ mặc những gì anh có cho ai muốn làm chi thì làm, nhưng phải trao chúng lại cho người khác thực hiện và quan trọng hơn là đem chia sẻ giá trị thu được từ những thứ đó cho người nghèo. Ðiều này đòi hỏi, trước hết, phải thực hiện một hành vi thương mại trên những gì anh ta sở hữu, sau đó mới có thể đem phân phát chúng cho những ai có nhu cầu. Hiểu rộng hơn, không phải chỉ cho của cải tài sản, mà cả mối bận tâm cũng như những khả năng nghề nghiệp nữa.

Trao các hoạt động kinh tế lại cho những người có khả năng khác, vì chúng cần phải được tiếp tục ngõ hầu xã hội có thể tiếp tục tồn tại và phát triển cách bình thường; chọn từ bỏ nghề nghiệp của mình, không phải vì nghề nghiệp đó chẳng đáng làm, nhưng vì anh ta đã muốn chọn lấy một trách vụ khác: đi theo làm môn đệ của Ðức Giê-su, một con đường dẫn đến hạnh phúc đời đời. Thiết tưởng, phải như thế mới đụng đến được đòi hỏi của Chúa Giê-su, có nghĩa là phải tha thiết đối với việc chọn lựa hạnh phúc thật. Ðiều này được khẳng định trong dụ ngôn về người thương gia đi truy tầm ngọc quí (xin xem Mt 13,45-46): sau khi phát hiện ra viên ngọc giá trị, ông ta đã quyết định quay về bán hết mọi thứ mình đang có để trở lại tậu cho được viên ngọc đó. Vậy, tài sản vật chất và các hoạt động kinh tế thương mại trong xã hội không phải là không có chỗ trong giáo huấn của Ðức Giê-su.

b. Ðem cho người nghèo. Chúng ta sẽ không nhắc lại tầm quan trọng và giá trị của việc bố thí, mà ta đã có dịp nói tới nhiều trong bài nói về gương mẫu Tô-bít. Ở đây, chỉ xin lưu ý rằng đòi hỏi bố thí của Ðức Giê-su củng cố thêm cho tính cần thiết của của cải vật chất. Vì, nếu chúng vốn chỉ là thứ đáng khinh chê thì Ðức Giê-su đã không dạy phải đem chia sẻ chúng cho người đồng loại đang cần đến. Thật vậy, Ngài không dạy người ta đem cho người khác những thứ gì mình khinh chê hoặc coi là cạm bẩy cho chính mình. Trái lại, vì của cải vật chất có giá trị của chúng, và là thứ đáng giá đối với chính bản thân, nên việc đem chia sẻ chúng cho những người đồng loại đang cần đến mới đáng kể, nó chứng tỏ lòng thương yêu của con người với nhau.

Mạnh hơn nữa, hãy bố thí cho người nghèo chứ không phải đem chia cho bà con thân thuộc, cũng không làm vì mong được đáp trả, theo như một giáo huấn ở chỗ khác của Ðức Giê-su về việc mời khách dự tiệc (xin xem Lc 14,12-14). Ỏ đây, điều đáng nói là tinh thần tương trợ và thương yêu người đồng loại túng thiếu, chứ không phải chỉ đơn thuần là việc từ bỏ của cải vật chất mà thôi. Do đó, không phải là vấn đề nghèo khó, cũng không phải là việc khuớc từ của cải, mà là lòng thương yêu người, là tiếp tay vào trong việc hoàn tất công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Khi thực thi điều đó, con người sẽ trở nên hoàn thiện, theo nghĩa là trở nên giống Thiên Chúa, Ðấng Yêu Thương vô điều kiện: thực thi lòng thương xót và thương yêu. Ðó là điều nằm ở tận trung tâm của hiện hữu Thiên Chúa, như thánh Gio-an đã khẳng định: Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,8). Việc bán tài sản chỉ đạt được ý nghĩa đích thực của nó trong bước tiếp theo là đem chia sẻ cho những ai đang cần đến: Thực hành bác ái yêu thương. Hầu đạt được một kho tàng đích thật.

c. Ðược một kho tàng trên trời, kho tàng không bị hư nát. Ðiều này không mang ý nghĩa một cuộc đánh đổi mà, có lẽ, là một chọn lựa quyết liệt dựa theo lời hướng dẫn của Thầy. Chấp nhận từ bỏ và đánh đổi tất cả để được trở nên môn đệ của Thầy. Không phải một thứ trao đổi mang tính kinh doanh: bỏ cái ít lợi để được cái lợi hơn. Một dấn bước để có thể trở nên hoàn thiện hơn. Vâng, kho tàng đó chính là Thiên Chúa, Ðấng Yêu Thương.

Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó (Mt 6,21; Lc 12,34), cho nên nếu ta chọn việc yêu mến Thiên Chúa và anh em như là một cái gì quí giá nhất cho bản thân, thì lòng ta sẽ không còn bị dính chặt vào bất cứ một giá trị nào khác, của cải vật chất cũng được kể trong số đó. Kho tàng quí giá nhất, chính là tình yêu, nằm ở nơi cung lòng Thiên Chúa. Ðó là kho tàng không bị hao hụt, mối mọt và rỉ sét không thể đụng đến được, bởi vì nó không phải là một thứ vật chất cụ thể nào đó. Vàng, bạc hay các kim loại quí giá khác không thể sánh bằng. Vậy, giá trị của của cải vật chất đã bị xếp vào hàng thứ yếu, chúng kém hơn rất nhiều so với một giá trị đích thực và vĩnh cữu: Tình Yêu. Của cải vật chất có giá trị nhưng chỉ là nhất thời và thứ yếu.

2.Tính cản trở của của cải vật chất

a.Theo Ðức Giê-su, hạnh phúc thật

Pha thứ hai của tiến trình đạt đến hạnh phúc thật nằm ở mệnh lệnh ngắn gọn nhưng dứt khoát: Hãy đến mà theo tôi . Phần kết cho câu trả lời của Ðức Giê-su. Nó được nêu ra như một đích điểm phải đạt tới. Theo Ðức Giê-su, ở đây, gần như đồng nghĩa với sự sống đời đời, là điều mà người thanh niên nọ muốn tìm. Muốn đạt đến hoàn thiện thì phải đi theo đường lối của Ðức Giê-su, chọn làm môn đệ Ngài. Nghĩa là, tham gia vào công trình của Thiên Chúa qua việc thực hiện tình yêu thương đối với tha nhân, đặc biệt là người nghèo. Yêu thương cho đến cùng. Một chọn lựa dứt khoát. Chấp nhận đánh đổi tất cả để được Nước Trời.

Mục đích của pha thứ nhất trên kia không dừng lại ở chính nó, nó chỉ là phương thế đưa con người thoát ra khỏi chính mình để có thể thong dong đi theo con đường Thầy đã chọn đi, pha thứ hai, tức là trở nên những sứ giả của Tình Yêu Thiên Chúa: Những người được sai đi gieo rắc tình người. Ðó chính là tiếp tay làm cho công trình tạo thành của Thiên Chúa được hoàn tất. Nhờ thực hành như vậy mà càng ngày con người càng trở nên hoàn hảo hơn. Không phải con người tự hoàn hảo chính mình trong khi thực thi bác ái huynh đệ mà, ngang qua các thực hành trên, thế giới và vũ trụ, cũng như chính đương sự, sẽ ngày càng trở nên giống Thiên Chúa hơn. Ngày một hơn, con người sẽ trở nên giống Thiên Chúa, Tình Yêu, khi chọn đi theo Chúa Giê-su.

Trở nên hoàn thiện và đạt đến sự sống đời đời đòi phải đi xa đến mức như thế. Nhưng anh thanh niên nọ đã không dám tiến bước thêm, vì anh ta đã gắn quá chặt vào một thứ gì khác rồi: tài sản kết xù của anh. Tính cản trở đáng sợ của sự giàu có nằm ở đấy.

b.Của cải vật chất, một trói buộc

Thật vậy, khi nghe câu trả lời của Ðức Giê-su, người thanh niên nọ đã buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải (Mc 10,22). Anh ta đã chọn lưu lại trong sự giàu có của mình và không dám tiến bước trên đường hoàn thiện mà anh ta đã từng mong muốn. Anh ta không đành lòng nhận làm môn đệ của Thầy, cho dù trước đó anh ta đã có ý định nhận Ngài như một vì Thầy Nhân Lành, người có thể trao cho anh ta chìa khoá để đạt được hạnh phúc thật. Anh ta cảm thấy khó trong việc chia sẻ tất cả những gì anh có cho người nghèo mà anh ta gặp gỡ hàng ngày. Anh ta không muốn trở nên nghèo khổ khốn cùng như họ, sau khi đã phân phát hết tài sản của mình. Anh ta quay đi trong sự buồn bả, có lẽ, không phải vì anh ta không tin vào lời đòi hỏi của Thầy mà, đúng hơn, vì điều đó đã đụng đến tận cái mà anh ta coi là chiếc neo vững chắc cho mình: sự giàu có của anh.

Anh ta đã gắn số của cải vật chất đó quá chặt với hiện hữu của chính mình đến nỗi anh ta không thể bứt ra khỏi nó. Ta có thể dùng một hình ảnh khác để nói, không phải anh ta đã quay đi, mà đúng hơn chính con thuyền của Ðức Giê-su, con thuyền mà anh tin rằng sẽ dẫn đến bến bờ hạnh phúc, con thuyền của Ðấng mà anh đã đề nghị anh hãy nhổ neo đi theo Ngài, con thuyền đó vốn quá nhẹ nhàng đã lướt sóng đi xa, còn con thuyền chở khẩm tài sản của anh vốn không thể chạy nhanh được, lại nữa chiếc neo to lớn của nó lại nhổ chưa lên, cho nên nó còn nằm nguyên tại chỗ, trong khi Thầy đã vượt xa rồi. Và, tiếp đó, chính Ðức Giê-su, Ngài cũng chẳng vui gì khi tuyên bố rằng người giàu có khó vào Nước Trời (ta sẽ có dịp trở lại sau).

Suy nghĩ xa hơn một chút, ta có thể nhận ra một góc cạnh khác rằng, dường như, anh thanh niên nọ đã tưởng rằng, với sự giàu xụ của mình, anh ta có thể mua được hạnh phúc đích thật, nên anh ta đã đến gặp Ðức Giê-su để hỏi xem Ngài có không, và nếu có thì anh ta sẽ bỏ ra nhiều tiền để tậu lấy hầu được ung dung và thảnh thơi hưởng thụ mọi thứ nhờ vào sự giàu có của mình. Nhưng anh ta đã lầm. Anh ta không hài lòng về câu trả lời của Ðức Giê-su, mà theo đó Ngài muốn cho anh ta nhận ra rằng tất cả những gì anh ta có chỉ là không đáng kể so với sự sống và hạnh phúc mà anh ta đang muốn đi tìm. Ta có thể làm một so sánh giữa anh ta với người thương gia truy tìm ngọc quí, mà ta đã nhắc trên kia, mà Ðức Giê-su đã nói tới trong một dụ ngôn (xin xem Mt 13,45-46): anh ta không có con mắt nhà nghề như người thương gia nọ để có thể nhận ra đâu mới đúng là viên ngọc có giá trị cao thực sự. Anh ta có nhiều tiền của nhưng không có đầu óc sâu sắc. Anh ta chỉ như một kẻ đi chợ, chứ không phải một người quyết tâm đi tìm. Chính vì vậy, câu trả lời của Ðức Giê-su đã không đụng đến được tâm khảm của anh ta, hay đúng hơn là anh ta không sẵn lòng để đón nhận nó.

Tài sản vật chất kết xù dễ cản trở con người và làm cho nó không thể mở ra, dấn bước và vượt lên để đạt đến sự sống và hạnh phúc đích thật. Chúng là một cản trở đáng sợ, cần phải đề phòng chúng.

KẾT LUẬN:

Câu chuyện trên đã hé mở cho chúng ta một giáo huấn quan trọng của Ðức Giê-su về thực chất của của cải vật chất: một mặt, chúng có giá trị của chúng, một giá trị đáng kể, chúng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của con người, nhất là người nghèo; nhưng vấn đề là chúng có được chia sẻ cho mọi người cần đến hay không. Mặt khác, điều quan trọng là phải biết nhận định cho đúng đâu là lãnh vực ứng dụng cho giá trị của chúng vì, thật vậy, nếu không chúng sẽ trở thành một vật cản khiến người ta không thể vươn lên cao hơn, không thể bứt đi xa hơn được trên hành trình đạt đến hạnh phúc thật; chúng trói buộc người ta, nhất là khi họ có quá nhiều của cải, vì người ta đã quá bám chặt vào chúng, ngay cả những người không có nhiều của cải.

Trình thuật trên còn nhắc lại cho chúng ta một điều quan trọng khác, tầm quan trọng của việc bố thí: nó quan trọng không phải chỉ vì người nghèo khổ cần đến của cải mà, hơn nữa, vì việc chia sẻ cho anh em đồng loại chứng tỏ tấm lòng thương yêu nhau của con người.

Nếu như trong phần bàn về các giáo huấn khôn ngoan, ta đã thấy giá trị của sự giàu sang phú quí phải nhường chỗ hơn cho các giá trị khác như khôn ngoan, tiếng tốt, sức khoẻ, v.v. thì ở đây, Tân Ước cũng chỉ nhìn chúng như một giá trị thứ yếu và nhất thời. Thậm chí, chúng còn bị vạch trần như một cản trở con người ta đạt đến sự sống đời đời.





An Thụ




Bài 17

Của Cải Trong Kinh Thánh

Nộp Thuế Cho Hòang Ðế, Công Cụ Xã Hội Tính Của Tiền Tê

Dẫn vào

Nói về tiền bạc, ta còn đụng đến một khái niệm khác đặc trưng và xã hội hơn, đó là khái niệm tiền tệ. Ðiều này có liên quan đến cả hệ thống tài chính tiền tệ của một quốc gia, cũng như hoàn cầu nữa. Hệ thống đó ảnh hưởng trên mỗi thành viên trong xã hội, cũng như trên các hoạt động kinh tế thương mại liên quan. Một trong những yếu tố quan trọng của nền tài chính tiền tệ là thuế má và hệ thống thu chi thuế. Nó phục vụ cho các hoạt động nhà nước nói riêng và công ích xã hội nói chung.

Cả hai loại chi tiêu mang tính cách xã hội này đều ngày càng trở nên quan trọng trong mọi hệ thống chính trị xã hội. Ðiều này đã rõ nên thiết tưởng không cần phải lý giải, có chăng ta sẽ chỉ nói qua khi gặp những điều liên quan, dưới đây. Thánh Kinh cũng sẽ cho ta đôi nét, tuy rất ít, nhưng không kém quan trọng, về sự cần thiết này của hệ thống thuế má. Có điều là, đối với Ðức Giê-su, nó phải được nhìn một cách tách biệt với một thực tại khác cao hơn mà Ngài đến để mặc khải: Thiên Chúa và Nước của Người.

Sau khi đã nói về giá trị của của cải vật chất, về tính cách gây cản trở của tiền bạc, ở các bài trước, ta sẽ xem về khiá cạnh công cụ tính của tiền bạc trong hệ thống tài chính và thuế má.

Liên quan đến chủ đề nộp thuế, ta thấy có hai trình thuật trong các sách Tin Mừng: việc nộp thuế của hai thầy trò Ðức Giê-su và Phê-rô (Mt 17,24-27) và việc người ta chất vấn Ðức Giê-su về vấn đề nộp thuế cho Hoàng đế Rô-ma (Mt 22,15-22; Mc 12,13-17; Lc 20,20-26). Chúng sẽ cho chúng ta một cái nhìn khác nữa trong giáo huấn của Ðức Giê-su về vấn đề tiền bạc.

1.Ðóng góp xã hội: trách nhiệm của mọi thành viên

Chỉ có một mình thánh Mát-thêu ghi lại câu chuyện nộp thuế của hai thầy trò Ðức Giê-su (Mt 17,24-27). Trong đó, Ðức Giê-su đã sai Phê-rô đi ra biển câu cá và lấy ra từ trong miệng con cá đầu tiên câu được một đồng tiền bốn quan để đem nộp phần thuế của hai thầy trò. Một đồng tiền bốn quan? Tại sao chỉ có hai thầy trò, mà không có những môn đệ khác?

Thuế nào?

Về câu hỏi thứ nhất. Ðồng tiền bốn quan trong tiếng hy lạp: stathr (stater). Một đồng stater, trong Tân Ước, trị giá bằng 2 đồng drachmas của Alexandria hoặc 1 shekel bạc của Do thái. Ðó là số tiền tương ứng để nộp 2 xuất thuế thân, thứ thuế nộp cho Ðền thờ mà mỗi nam nhân Do Thái phải nộp hàng năm (x. Xh 30,11-16). Ta đã có dịp nói tới thứ thuế này trong một bài trước đây, bài số 15 (nên xin không nhắc lại tính cần thiết của nó). Thật vậy, thứ thuế này phải nộp bằng tiền chứ không phải bằng hiện vật như các loại của lễ dâng cúng vào mùa gặt, cũng không phải chiên dê: mỗi người nửa sê-ken bạc.

Có nhất thiết phải đóng thuế?

Về câu hỏi thứ hai, chỉ nộp thuế cho hai thầy trò mà thôi, không nói đến các vị khác. Người ta có thể giải thích rằng: Tin Mừng chỉ cần kể thêm tên Phê-rô vào với Ðức Giê-su để làm đại diện cho tất cả các môn đệ kia, như trong nhiều trường hợp khác. Nhưng, có lẽ phải đọc trình thuật này trong bối cảnh xã hội cụ thể của nó. Theo các nhà chuyên môn, vào thời Ðức Giê-su, thứ thuế thân này được miễn trừ đối với các bậc thầy (rabbi) và các vị lãnh đạo tôn giáo trong Dân. Vì vậy, ta có thể hiểu rõ hơn câu hỏi của Ðức Giê-su đặt ra cho Phê-rô: Anh Si-môn, anh nghĩ sao? Vua chúa trần gian bắt ai đóng sưu nộp thuế? Con cái mình hay người ngoài?, và sau lời đáp của Phê-rô, Ngài đã khẳng định: Vậy thì con cái được miễn. . Lời khẳng định đó phản ánh thực trạng xã hội thời đó về các bậc làm thầy và các nhà lãnh đạo tôn giáo trong Dân, như vừa nói. Do đó, câu chất vấn của những người thu thuế Ðền thờ ở Ca-phác-na-um hỏi Phê-rô: Thầy các ông không nộp thuế sao? cho thấy rằng họ không nhìn nhận Ðức Giê-su như một bậc thầy.

Việc Ðức Giê-su đề nghị Phê-rô đi câu cá lấy tiền nộp thuế, như kể trên kia, khiến ta có thể nghĩ đến hai điều: thứ nhất, Ðể khỏi làm gai mắt họ, đúng hơn là để tránh cho họ khỏi cớ vấp phạm . Ðức Giê-su không muốn tranh cãi với họ về căn tính của Ngài, bởi vì họ không chịu tin và không muốn tin. Ngài đã chấp nhận nộp thuế như mọi người dân Do thái. Thứ hai, liên quan chặt chẽ đến điều thứ nhất, Ngài thực sự muốn tự đồng hoá mình với Dân Ngài, trở nên một người con Dân ở dưới quyền của Lề luật (Dt 2,17-18) theo như tinh thần tự hạ mình được thánh Phao- Lô nói đến trong lá thư ngài gởi các tín hữu thành Phi- Líp-phê (Pl 2,6-11; xin xem thêm Dt 8,4).

Còn về thánh Phê-rô, có lẽ, thánh Mát-thêu có ẩn ý về một sự kiện rằng: được coi là vị thủ lãnh của cộng đồng ki-tô hữu (vì các Tin Mừng được soạn thảo trong bối cảnh như vậy) nên thánh Phê-rô cũng có thể được hưởng quyền miễn trừ. Nhưng, theo tinh thần đồng hoá của Thầy, vị thủ lãnh của Dân Mới, Phê-rô, cũng cần phải ở trong và ở đồng hàng với Dân, với tư cách là một thần dân của Nước Trời như mọi thành viên khác. Vậy nên, cho dù là người lãnh đạo Dân Mới, xét về khía cạnh là Dân Chúa, Phê-rô cũng chỉ là một thành viên và do đó phải chấp hành luật này như mọi người. Thiết tưởng, đó là một lý do tại sao chỉ có thánh Phê-rô được kể ở đây.

2.Thuế má

Như đã xác định trên kia, trình thuật cuộc gài bẫy về việc có nên nộp thuế cho Xê-da hay không, mà ta bàn đến ở đây, được thuật lại bởi cả ba tác giả Tin Mừng nhất lãm (Mt 22,15-22; Mc 12,13-17; Lc 20,20-26). Ta sẽ không bàn đến việc người ta muốn gài bẫy Ðức Giê-su, nhưng sẽ xem xét cách thức Ngài dùng loại đồng tiền sử dụng thời đó để đối đáp lại với họ, qua đó ta sẽ hiểu thêm một đặc tính khác của đồng tiền trong giáo huấn của Ngài.

Theo trình thuật, Ðức Giê-su đã đề nghị họ cho Ngài xem đồng tiền ra sao (xin bỏ qua việc xem xét hình dạng các đồng tiền thời đó). Rồi từ hình dạng của đồng tiền, Ngài đã nói rõ lập trường của mình. Nếu so sánh với trình thuật nộp thuế nói trên kia, ta sẽ thấy có một khác biệt về việc dùng từ ngữ chỉ tiền bạc: nếu trong trình thuật trên kia nó là một đồng tiền trị giá bốn quan, thì ở đây từ ngữ được dùng là một đồng tiền cách chung: một đồng denier, một loại tiền đang lưu hành trong Ðế chế Rô-ma thời đó, trị giá một ngày công lao động. Nó gợi ý về tiền tệ nói chung.

Vai trò của tiền tệ

Câu trả lời danh tiếng của Ðức Giê-su: Thế thì, của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa, vốn mang tính cách chính trị nhiều hơn là kinh tế: nó nói về hai hệ thống quyền bính. Nhưng, ở đây, ta chỉ muốn tìm hiểu về vai trò của tiền tệ nói chung. Tiền tệ được đúc ra bởi chính quyền nhằm phục vụ cho việc lưu chuyển đời sống trong xã hội, mỗi loại tiền có giá trị trong một xã hội nhất định, nơi nó được công nhận. Nó là một công cụ cần thiết giúp cho chính quyền điều hành nền kinh tế thương mại quốc gia.

Vì, xét về mặt kinh tế xã hội thì nó giữ một vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế của xã hội và là thước đo cần thiết cho mọi hoạt động trao đổi trong xã hội. Nhưng, đặc biệt hơn, trong hệ thống tài chính quốc gia, tiền tệ giữ vai trò công cụ giúp chính quyền điều tiết nền kinh tế tài chính, nó bảo đảm cho tính độc lập của một quốc gia về mặt kinh tế và chính trị đối với các lân bang; hơn nữa, nó còn là một công cụ thu thuế. Thuế, một phương thế chủ yếu trong toàn bộ thu nhập ngân sách quốc gia để chi dụng cho các hoạt động của chính quyền và các dịch vụ công ích xã hội. Tắt một lời, tiền tệ là một công cụ kinh tế của chính quyền một nước hoặc một vương triều để phục vụ cho việc điều hành, sự tồn tại và phát triển về mọi mặt của xứ sở đó.

Có lẽ, Ðức Giê-su hiểu rõ tầm quan trọng này của tiền tệ nói chung, và hệ thống thuế má nói riêng, nên Ngài đã không ngần ngại trả lời rằng hãy trả về cho Hoàng đế điều thuộc về Hoàng đế. Tuy nhiên, Ngài không quên phân biệt điều đó với những gì là thiêng thánh, là thuộc về Thiên Chúa, thuộc về Nước Trời, cần phải được trả về cho chính Thiên Chúa.

Nộp thuế?

Việc nộp thuế, xét về khiá cạnh chính trị và xã hội, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động của guồng máy chính quyền, cả đời lẫn đạo, hầu duy trì một sự thống nhất trong công việc điều hành xã hội. Tuy nhiên có người sẽ có thể lên tiếng rằng: Tôi không cần đến một nền quản lý như vậy, tôi muốn tự do chứ không chịu ở dưới một sự điều hành chung nào cả, vì đôi khi nó quá áp đặt hoặc quá độc đoán trên bản thân tôi. Bởi vì, trong lịch sử đã có rất nhiều vấn đề liên quan đến hệ thống nhà nước. Ðối với những người này, xét như vậy, việc nộp thuế là điều khó chấp nhận. Nhưng, nếu xét suy cho kỹ, hệ thống quản lý chính trị tập trung như thế vốn là một bước phát triển quan trọng và cần thiết trong lịch sử xã hội loài người, một bước tiến lịch sử, cho dù đã có nhiều lập luận ngược lại.. Và, do đó, việc nộp thuế đã xuất hiện như một hình thức phát triển tất yếu phục vụ cho việc đóng góp của mỗi thành viên trong xã hội cho nền quản lý đó. Các đóng góp loại này chính là những viên đá mỗi người góp vào để xây dựng xã hội.

Việc lạm dụng sự đóng góp

Tuy nhiên, cũng có không ít các lạm dụng nơi một số người cầm quyền không thật sự quan tâm đến người dân như các vua chúa ngày xưa. Trong quá khứ đã có một số chế độ chính trị xã hội chỉ lo cho việc vun đắp cho sự giàu sang thịnh vượng của một số thành phần nào đó trong xã hội mà thôi. Như dưới chế độ phong kiến, mọi đóng góp mang tính cách thuế má nhằm, trước tiên, cung phụng cho các vua chúa và quan quyền, còn các chi phí cho các hoạt động xã hội được trích từ đó thì không đáng kể và chỉ được coi là một ơn huệ vua chúa ban cho dân đen. Vì thế ta hiểu tại sao, trong Thánh Kinh, cũng đã có những phản kháng mạnh mẽ chống lại việc tập trung quyền lực vào tay một người lãnh đạo duy nhất là nhà vua, và muốn tiếp tục duy trì chế độ liên bộ tộc (1Sm 8,10-18).

Ðâu là tiếng nói cuối cùng?

Nhưng xét cho cùng, các bộ tộc cũng có những vị cầm đầu và họ cũng được nhiều ưu đãi hơn người khác. Sự bình đẳng vẫn không có chỗ. Cho nên, cuối cùng, xu hướng phát triển thành một nền chính trị tập trung quyền lực, hầu có được một sức mạnh quân sự và chính trị hùng mạnh hơn, đã thắng thế, bất kể mọi lý do chống lại nó (1Sm 8,19-22). Nhưng cũng phải kể đến tham vọng quyền lực càng ngày càng hơn của những con người, những nhà lãnh đạo trong quá khứ, mà đã đẩy tiến trình đó đạt đến hiện thực tính của nó (Thánh Kinh cũng có nói đến việc này, nhưng xin không bàn ở đây).

Ngày nay, sau nhiều giai đoạn phát triển của nền chính trị xã hội, các chế độ chính trị ngày càng mang nhiều tính dân chủ, hoặc ít ra là tính xã hội, hơn: các đóng góp thuộc dạng thuế má được ban hành và áp dụng đều có sự góp ý tích cực của toàn dân, đại diện bởi Quốc hội. Cũng tương tự, đối với việc chi tiêu ngân sách quốc gia. Và, ngày càng rõ ràng, thuế má và việc nộp thuế trở thành một điều tự nhiên và quan trọng cho hoạt động và sự phát triển của xã hội, của dân tộc, của quốc gia. Nó trở nên không thể thiếu được đối với một quốc gia. Tuy nhiên cần phải có những chính sách và chương trình thu chi cho hợp lý và hợp đạo đức nữa.

Tính cách chính đáng của thuế má

Tiền tệ, một phương thế cụ thể để thực hiệc chính sách thuế, nhất là ngày nay, có vai trò cụ thể của nó. Vậy, liên quan đến việc nộp thuế, từ xa xưa, Ðức Giê-su đã nhận ra tầm quan trọng của nó và Ngài đã không ngần ngại, cách gián tiếp, khẳng định điều đó qua việc chọn nộp thuế chứ không dùng quyền miễn trừ, với tư cách là một bậc thầy trong dân (Mt 17,27).

Vậy qua việc công nhận tính cách hợp pháp và chính đáng của quyền bính thế trần, qua việc nhìn nhận sự hợp lý của việc nộp thuế cho Hoàng đế, Ðức Giê-su đã gián tiếp chuẩn nhận sự cần thiết của hệ thống tài chính quốc gia, được thực hiện nơi việc thu thuế bằng hiện kim, như một điều kiện xã hội tự nhiên phục vụ cho các hoạt động chính trị xã hội. Về sau, thánh Phê-rô cũng viết cho các tín hữu điều tương tự (1Pr 2,13-17) để chỉ rõ rằng không có sự mâu thuẫn giữa việc sống đạo và việc thi hành nhiệm vụ người dân trong một quốc gia dưới bất kỳ một chế độ chính trị nào. Thánh Phao- Lô cũng dạy cùng một thể cách như vậy cho các tín hữu của ngài (Rm 13,1.5-7; Tt 3,1). Bởi vì, việc nộp thuế, mà tiền tệ gián tiếp giữ vai trò công cụ, vốn là một trong những công cụ quan trọng cho việc điều hành và vận hành của một xã hội chính trị, theo như sự phát triển xã hội loài người; nhất là ngày nay, điều này càng hiển nhiên và không thể thiếu được.

Kết Luận: công cụ tính của tiền tệ

Các giáo huấn của Ðức Giê-su đã không bị lỗi thời qua dòng thời gian. Ngài đã nhìn nhận việc nộp thuế như một thực tại có thực và cần thiết nhưng đồng thời, như gợi ý trên kia, Ngài cũng nói rõ sự phân biệt giữa nó với một bình diện khác trong đời sống con người, với tư cách là một nhân linh có nhu cầu tôn giáo: cuộc sống trần thế này, với những điều kiện cần thiết của nó, không đủ cho con người; còn có một bình diện khác quan trọng hơn, đó là sống trong tương quan với Thiên Chúa. Tính cách cần thiết của điều thứ hai này được đặt một cách loại suy với sự cần thiết phải đóng góp cho hoạt động chung của xã hội qua việc nộp thuế. Do đó, phải trả về cho Thiên Chúa điều gì thuộc về Người.

Chính việc đặt song song hai bình diện như vậy cho thấy rõ rằng Ngài nhìn nhận tầm quan trọng của việc đóng góp xã hội, trong đó tiền bạc giữ một vai trò dụng cụ thực hiện. Và điều này phải được áp dụng cho mọi thành phần trong xã hội.

Nói cách khác, tiền bạc ở đây được nhìn dưới góc độ một công cụ giúp thực hiện các hoạt động chính trị xã hội của chính quyền, đại diện cho toàn dân.





An Thụ




Bài 18

Của Cải Trong Kinh Thánh

"Người Giầu Có Khó Vào Nước Trời"

Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào Nước Thiên Chúa (Mt 19,24 ). Một khẳng định như thế khiến ta phải e dè và phân vân khi đọc thấy. Vì liệu ai trong chúng ta, những con người rất người, lại chẳng mong ước trở nên khá giả hoặc giàu có, và điều này hợp đạo đức chứ không phải là điều gì đáng ghê tởm. Thật vậy, của cải vật chất đem lại cho con người một cuộc sống thoải mái hơn, dễ chịu hơn và khởi đi từ đó người ta có điều kiện tốt hơn để thực hành tôn giáo, như một câu rất thực tế trong tiếng Việt: Có thực mới vực được đạo.

Liệu rằng, khi tuyên bố như trên, Ðức Giê-su có vô tình hay hữu ý lên án phần đông trong chúng ta hay không? Liệu Ngài có ý muốn rằng tất cả những ai tin theo Ngài cần phải làm cho mình ra nghèo khổ hay không? Câu trả lời có lẽ đã rõ, nếu chúng ta theo dõi từ đầu loạt bài này, nhưng ở đây, người viết muốn làm một thứ tóm kết về những gì đã nói, liên quan đến ý kiến trên, và đồng thời cũng là một dẫn nhập cho những gì sẽ được bàn trong những bài tiếp theo.

Quả thật, điều này đụng đến mỗi người một cách cụ thể.

Vậy, phải hiểu làm sao việc người giàu có khó vào Nước Trời. Chúng ta sẽ dễ dàng đồng cảm với các môn đệ Ðức Giê-su khi thấy các vị hỏi Ngài rằng: vậy liệu còn ai có thể vào Nước Trời được? Và câu trả lời của Ðức Giê-su dường như chẳng mấy ăn nhập: Ðối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được (Mt 19,26). Trọng tâm của vấn đề là ở câu trả lời này, chứ không phải ở cách "nói quá" kia.

Trước hết,

Nếu để vào được Nước Trời, người ta phải đi con đường hẹp;
Nếu để đi theo Ðức Giê-su, người ta phải từ bỏ mọi sự mà theo;
Nếu để chiếm hữu được Nước Thiên Chúa, người ta phải đánh đổi tất cả những gì mình sở hữu;
Nếu để được chọn vào dự Tiệc Cưới, người ta phải luôn tỉnh thức sẵn sàng;
Nếu để khỏi phải bị bắt chộp, người ta phải luôn canh thức;
Nếu để đạt đến triều thiên vinh quang, người ta phải quên phía sau mà lao mình tới trước.

Và,

Nếu Nước Trời đòi con người phải yêu thương nhau như chính mình;
Nếu Nước Trời đòi người ta phải chia sẻ cho nhau;
Nếu Nước Trời đòi người ta phải đón nhận nhau;
Nếu Nước Trời đòi người ta phải quan tâm đến nhau;
Nếu tất cả những điều trên đòi hỏi người ta phải quan tâm học cho biết, như ta đã thấy trong các bài trước, về cách thế sử dụng tiền của một cách đúng đắn: tránh chà đạp người khác, và đặc biệt là nhằm tái tạo tình người và xây dựng xã hội con người ngày một tốt đẹp hơn.

Thì,

Vốn để vào được Nước Trời, quả đã là rất khó đối với một con người nói chung,
Còn khó hơn biết mấy đối với một người giàu.

Bởi vì, như ta đã nói nhiều lần, những người có của thường dễ dàng đặt sự an toàn của họ trên tài sản chiếm hữu, thường thì họ khó có thể dứt bỏ ra được khỏi chúng, họ thường dễ dàng rơi vào tình trạng tìm cách thu tích nhiều hơn nữa, cho dù phải chà đạp lên sự an toàn của người khác, họ thường khó chấp nhận chia sẻ hoặc sử dụng tài sản của họ cho những mục đích cao thượng, v.v.

Vâng, đối với họ, quả là khó nhọc vô cùng để đạt đến đích điểm mà Ðức Giê-su đã đến để mặc khải cho: Nước Trời. Ðến đỗi khó hơn cả một con lạc đà chui qua lỗ kim.

Thật vậy, sự giàu có của họ đã làm cho họ ra khờ dại, mù loà và điếc lác đến nỗi không còn biết nhận ra đâu là điều hơn lẽ thiệt, đâu là người thân cận và đâu là tiếng nói của chân lý liên quan đến hạnh phúc thật của họ. Ðó sẽ là những chủ đề quan trọng trong giáo huấn của Ðức Giê-su về vấn đề tiền bạc mà ta sẽ bàn đến trong khi tìm hiểu về các dụ ngôn Ngài dùng trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca: ông nhà giàu khờ dại, người giàu và anh La-da-rô nghèo khổ (mà ta sẽ bàn đến sau này).

Trở lại câu nói rằng người giàu có khó vào Nước Trời, ta sẽ xem xét thêm đôi nét hầu có thể giúp hiểu rõ thêm đâu là điều quan trọng của sứ điệp này. Câu nói trên có một qui chiếu rõ nét trong nền văn hoá Cổ Cận Ðông. Người ta tìm thấy trong nhiều bản văn của vùng này một cách nói quá, để chỉ một sự việc hiếm thấykhó thực hiện, chẳn hạn: Cho tới chừng nào một con voi chui qua được cái lỗ kim. Khi người Do thái muốn diễn tả một ý niệm tương tự, họ dùng cách nói quá này. Bằng sự tương phản giữa một con voi, vốn vừa to lớn lại vừa di chuyển một cách bệ vệ với các chuyển động của các chi và cả cái vòi lúc lắc nữa, và một cái lỗ kim bé tí tẹo, mà đôi khi ta phải tập trung hết khả năng nhìn của mình để thấy, người ta muốn diễn tả tính cách "bất khả thi". Quả vậy, sự tương phản đó làm cho nổi bật lên tính cách khó khăn đến mức dường như không thể thực hiện được của sự việc.

Người ta không rõ tại sao Ðức Giê-su, hoặc các tác giả Tin Mừng, lại thay thế hình ảnh con voi bằng con lạc đà. Có lẽ, hình ảnh con lạc đà quen thuộc hơn với người dân trong vùng, nhưng không có giải thích nào thoả đáng. Tuy nhiên, có lẽ, ý nghĩa của cách nói vẫn là một.

Cách nói này, có hàm ý diễn tả tính "bất khả thi" của một sự việc như thế, giúp ta nhận ra mối liên hệ với câu trả lời của Ðức Giê-su cho các môn đệ, như ta vừa gợi trên kia, rằng: Ðối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được (Mt 19,26). Có nghĩa là, có một sự đối lập rất mạnh giữa một người giàu có (với tất cả những vấn đề mà ta đã có dịp bàn tới), và Nước Trời (với tất cả những đòi hỏi từ bỏ và yêu thương mà ta cũng đã nói), đến nỗi nếu chỉ bằng sức của con người thì dường như vô vọng; nhưng nếu ta kể đến ơn trợ giúp của Thiên Chúa hằng ban liên tục và dồi dào cho nhân loại thì nó không còn là vấn đề nữa. Và Ðức Giê-su, khi công bố câu này, đã muốn khẳng định cái thực tại mang tính cứu độ Ngài mang đến trong thế gian. Thực tại đó đã xuất hiện rồi. Ðiều còn lại là liệu ta có biết đón nhận và sử dụng hay không giáo huấn của Ngài.

Chính vì vậy, như ta đã gặp nhiều lần trong Cựu Ước, qua các nhân vật đã được tìm hiểu, đã có nhiều người được kể là rất giàu có nhưng đồng thời cũng đã có chân trong Nước Trời, đặc biệt là nhân vật Tổ phụ Áp-ra-ham mà ta đã có dịp bàn kỹ.

Và hơn nữa, ngay trong Tân Ước, ta cũng có những ví dụ rất cụ thể về những người nam và nữ giàu có hằng đi theo trợ giúp Thầy Giê-su. Thật vậy, ta thấy, khi còn ở tại thế, Ðức Giê-su được bao bọc bởi những người đàn ông và đàn bà giàu có, những người sẵn lòng giúp Ngài về mặt vật chất, bằng của cải dồi dào họ có. Ta có thể kể ra một vài tên tuổi thường nghe nhắc đến trong Tin Mừng: ông Ni-cô-đê-mô, ông Giô-xếp người thành A-ri-ma-thê, bà Sa- Lô-mê, v.v.

Ðó là chưa kể đến chính Ðức Giê-su được các Tin Mừng mô tả không như một người nghèo khổ, trái lại thì có. Thật vậy, ngay từ những ngày đầu được sinh ra, gia đình Ngài đã được các vị Ðạo sĩ đến dâng tặng nhiều vàng bạc; ta không hề nghe nói đến việc Ngài phải lo lắng vất vả để kiếm cơm ăn áo mặc, ta chỉ nghe kể Ngài là một bác thợ; trong khi đó, chiếc áo choàng của Ngài, mà mấy người lính Rô-ma đã quyết định rút thăm dưới chân thập giá, vốn là một chiếc áo đắt tiền mà chỉ có những người giàu có mới có được.

Những điều vừa nói cho thấy rằng: cũng có nhiều người giàu, trong đó có chính Ðức Giê-su, đã vào Nước Trời không mấy khó.

Vậy, vấn đề không phải là giàu hay nghèo mà là việc đặt tương quan của ta với của cải vật chất. Ưu tiên của tôi là cái gì: Thiên Chúa và anh em đồng loại hay tiền bạc. Thiết tưởng, đó mới là vấn đề mà cách nói trên muốn đặt cho chúng ta: làm thế nào để có thể vào được Nước Trời, cho dù tôi có thể đồng thời là một người giàu có? Thuộc về mỗi chúng ta lời đáp, diện đối diện, với chính Ðấng đã dạy những điều cần thiết.





An Thụ




Bài 19

Của Cải Trong Kinh Thánh

Ông Da-kêu, chọn hành nghề thu thuế theo tinh thần Tin Mừng

Ðể tiếp tục nói về việc người giàu có thể vào được Nước Trời, với ơn trợ giúp của Thiên Chúa, ta sẽ tạm để qua một bên các dụ ngôn nhằm cảnh tỉnh những sai lạc trong việc sử dụng của cải, và dành hai bài tiếp theo đây để tìm hiểu về vài nhân vật khác của Tân Ước, họ vừa giàu lại cũng vừa biết cách vào Nước Trời, đó là Ông Da-Kêu và người phụ nữ đã dám dùng cả một bình dầu thơm đắt tiền để xức cho Ðức Giê-su. Ðó là hai sự kiện đã được các sách Tin Mừng ghi lại cho chúng ta.

1. Con chiên lạc được tìm thấy

Về câu chuyện ông Da-kêu, chỉ có một mình thánh Lu-ca ghi lại sự kiện này (Lc 19, 1-10) và ngài đã trình thuật nó một cách rất thú vị.

Ông Da-kêu, một người thấp bé, một tay trùm thu thuế nổi tiếng là giàu có. Mặc dù không nói đến lý do tại sao ông ta giàu, nhưng việc xác định ông là trùm thu thuế đã cho ta biết rằng sự giàu có của ông ta đến từ nghề thu thuế của ông, một công việc không mấy "trong sạch", đặc biệt là dưới cái nhìn của người Do thái. Ðiều thú vị cho chủ đề của chúng ta là cuộc đối thoại giữa Ðức Giê-su với ông.

Sau khi Ðức Giê-su đã vào nhà ông, kèm với rất nhiều lời bàn tán xì xào của đám đông, và trước mặt họ, ông đã mạnh dạn đứng lên tuyên bố với vị Thầy mà ông ngưỡng mộ rằng: "Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn." Nhưng ta cần lưu ý là ông đã làm như thế không hề vì sợ sệt bất cứ ai, mà là một hành động tự nguyện. Ðó cũng là một sự đáp lời cho chính thái độ thân thiện của Ðức Giê-su khi Ngài tuyên bố sẽ đến nhà ông ngày hôm đó, điều mà ông không bao giờ ngờ tới, cũng chẵng dám nghĩ tới. Chính tiếp sau lời tuyên bố tự nguyện đó, ông và gia đình ông đã được một cơ may vô cùng quí giá là được nghe lời phán quyết từ chính miệng Ðức Giê-su: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này", điều mà chỉ do lòng nhân từ của Thiên Chúa đã thương ban cho ông và, ta có thể khẳng định thêm rằng, thực ra, nó đã được ban cho ông cả ngay trước đó rồi.

2. Thái độ đón nhận và mở ra. Không nhất thiết phải đánh đổi tất cả

Nếu ta để ý và nhớ lại những điều đã được bàn đến trong những bài trước về việc phải đánh đổi tất cả để được Nước Trời hay để được vào Nước Trời (như nơi dụ ngôn người truy tìm ngọc quý; câu chuyện người thanh niên giàu có, v.v.) thì hành động của ông Da-kêu chỉ đạt đến một phần nào của đòi hỏi đó. Quả vậy, vì cho dù ông không tự nguyện đánh đổi tất cả những gì ông có hầu đón nhận được Nước Trời, nhưng theo lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa, ta thấy rằng ơn cứu độ cho ông và gia đình ông đã được hứa ban. Phần ông, ông chỉ tuyên bố sẵn lòng chia sẻ phân nửa tài sản của mình cho người nghèo và đền bù gấp bốn cho những ai ông đã cưỡng đoạt.

Qua đó ta có một chỉ dẫn rõ nét rằng chính Thiên Chúa đã đi bước trước để đến với ông và Người đã tuyên bố cho ông được cứu độ; phần ông, ông chỉ tỏ chút lòng thành đáp lại tấm lòng thương xót của Người.

Ông không có ý đi tìm, nhưng cuối cùng ra, chính Thiên Chúa Làm Người đã đến tìm ông như một mục tử đi tìm một con chiên lạc của Ngài, bởi vì cũng chính Ðức Giê-su đã nói liền ngay sau đó: "Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất."

3. Thực thi bác ái và công bằng

Vậy, liệu ông Da-kêu có đóng góp gì để đáng được ơn cao trọng này chăng? Thưa có, và điều đó cũng thật đáng kể. Bởi vì, chỉ với một lần viếng thăm của Thầy Giê-su, người mà ông đã từng nghe tiếng và rất ngưỡng mộ, ông đã có một quyết định đến bất ngờ như ta vừa nói trên kia. Một đề nghị tự nguyện như thế không phải là điều hiển nhiên mà ai trong chúng ta cũng có thể làm được. Bởi vì, như ta đã tìm hiểu, những người giàu thường thích tìm cách tích luỹ thêm, trong khi ông đã vui lòng mở hầu bao của mình một cách rộng rải. Ðiều này quan trọng vì nó nhằm thực hiện hai điều rất cơ bản và thiết yếu mà Thánh Kinh đã khẳng định nhiều lần: chia sẻ cho người nghèo và thực thi công bằng xã hội.

Ðiều thứ nhất, chia sẻ cho người nghèo vốn luôn là điều ăn khớp với tinh thần tương trợ trong Thánh Kinh liên quan đến việc sử dụng của cải vật chất, điều mà ngay từ những ngày đầu vào sống định cư nơi Ðất Hứa, Dân Chúa đã được nhắc nhở phải thi hành (x. Ðnl 15,7-8), hầu cho ở giữa họ không có người nghèo (x. Ðnl 15,4), điều này xuất hiện bàng bạc trong Sách Thánh, đặc biệt nơi sách Tô-bi-a mà ta đã có dịp bàn kỹ (xin xem bài 10) và Tân Ước coi đó là một điểm nhấn quan trọng trong việc xây dựng cộng đồng tín hữu mà ta sẽ bàn đến sau này khi nói về giáo huấn của sách Công Vụ Tông Ðồ.

Ðiều thứ hai, đền bù cho người bị thiệt hại, một điều luật về công bằng được các bộ luật do thái quan tâm rất nhiều (x. Xh 21 - 22 và song song trong Ðnl), đặc biệt hơn nữa là việc thi hành này góp phần vào công cuộc tái lập lại nền công bằng trong xã hội Dân Chúa. Theo luật, người ta chỉ buộc phải đền bù gấp đôi những gì mình đã làm hại cho người khác, nhưng ông Da-kêu đã chẳng ngần ngại tuyên bố đền gấp bốn. Ở trên đời, nếu có ai đó đã làm điều gì sai trái, cụ thể là về đức công bằng, mà đã biết nhận ra đó là điều không phải, rồi quyết tâm chừa lỗi thì đã là tốt rồi (tuy nhiên, việc đền bồi cũng cần phải được tinh đến), đàng này ta còn thấy ông Da-kêu đã chọn thực hành một hành vi nhằm tái lập sự công bằng mà ông đã vi phạm.

Chính hai điều trên đã làm cho thái độ và hành động của ông Da-kêu mang một sắc thái rất Tin Mừng, và thánh Lu-ca đã không quên tường thuật lại cho chúng ta.

4. Gặp Ðức Giê-su, phục hồi nhân phẩm

Một điều khác cần lưu ý, là nhờ việc đến thăm của Ðức Giê-su mà ông Da-kêu đã vượt qua được rào cản của quan niệm đạo đức Do thái: coi những người cộng tác với Ðế quốc Rô-ma là những kẻ đáng bị loại ra khỏi cộng đồng. Ý thức này của ông được chứng tỏ qua lời tuyên bố mà ta vừa nghe ông nói trên kia. Vâng, chính Ðức Giê-su đã vực ông dậy và đưa ông thoát ra khỏi những rào cản đó và trả lại cho ông tư cách làm công dân của Nước Trời, một Vương quốc vượt trội lên trên và cao hơn hẵn cái xã hội Do thái thời đó, một xã hội xây trên nhiều rào cản mang tính xã hội và tôn giáo của nó. Chính điều này làm cho nhân phẩm của ông được phục hồi không chỉ về mặt xã hội mà cả về mặt thiêng liêng nữa, vì ông và gia đình ông đã nhận được ơn cứu độ vào ngay ngày hôm đó.

Ðó là một Tin Mừng cho tất cả những ai đã và đang ở trong cùng một tình trạng như ông Da-kêu.

5. Không đổi nghề, chỉ đổi cung cách hành nghề

Một điểm khác nữa, đó là với câu tuyên bố như trên, ông đã khẳng định cho chúng ta hai điều: một là, ông quyết tâm thực hiện nhiều hơn cả đòi hỏi của luật lệ do thái qua việc hứa trả gấp bốn cho những ai mà ông đã làm thiệt hại (như ta đã nói rồi); hai là, ta không hề nghe nói rằng ông tự tuyên bố sẽ bỏ nghề nhưng, một cách gián tiếp, dường như ông muốn tuyên bố sẽ tiếp tục thi hành nghề nghiệp thu thuế của mình, có điều là theo một cung cách khác, nghĩa là, ít ra, sẽ không còn tình trạng rằng ông sẽ cậy vào quyền làm trùm thu thuế của mình mà gây thiệt hại cách này hay cách khác cho bất cứ ai, bởi vì theo như lời hứa của ông thì ông sẽ phải đền gấp bốn cho họ nếu ông lại vi phạm. Tức là, không hề có lợi ích gì cho ông, xét về mặt vật chất, khi làm điều sai trái và bất công cho bất cứ ai giống như vậy nữa. Nói một cách khác, việc chấp nhận đi theo đường lối giáo huấn của Ðức Giê-su không hề khiến ông cần thiết phải bỏ nghề nghiệp của mình, chỉ có điều là kể từ nay ông sẽ hành nghề theo một cung cách hợp đạo đức, với một bận tâm kèm theo là đem chia sẻ những gì ông sẽ thu nhập được cho những ai cần đến, nhất là những người nghèo; và không còn ức hiếp ai nữa.

Thiết tưởng, đó chính là một cách thế thi hành nghề nghiệp theo tin thần Tin Mừng, điều mà mỗi người có thể học lấy cho mình như một bài học quí giá.

Kết

Thực thi bác ái và công bằng, điều được nhắc lại thường xuyên trong Thánh Kinh, là một điểm tới của việc sử dụng cách đúng đắn của cải vật chất. Nó phù hợp với tinh thần Tin Mừng và hơn nữa còn là một hệ quả của việc gặp gỡ Ðức Giê-su Ki-tô.

Là ki-tô hữu, chúng ta có thực sự biết áp dụng những đòi hỏi này của Tin Mừng hay chưa, hoặc nói cách khác, chúng ta có thực sự gặp gỡ Ðức Giê-su Ki-tô trong cuộc sống của mình chưa? Nếu chưa, ông Da-kêu, theo trình thuật của thánh Lu-ca, sẽ là một mời gọi chúng ta hãy xét lại chính mình, hầu cho việc sử dụng của cải vật chất của riêng mình, cũng như việc thi hành nghề nghiệp của mình, sẽ mang một chiều kích "mới", chiều kích Tin Mừng.





An Thụ




Bài 20

Của Cải Trong Kinh Thánh

Bình Dầu Thơm Ðắt Giá Và Việc Giúp Ðỡ Người Nghèo

Ðã có một ông Da-kêu giàu có biết cách chiếm lấy Nước Trời, như ta thấy trong bài trước, và ở đây ta còn thấy một phụ nữ khá giả biết cách khéo xử thế với Thầy Giê-su bằng một hành động lạ lùng đến nỗi đã khiến các tác giả Tin Mừng ghi lại, nhưng hành động đó cũng gây nhiều dị nghị, đó là sự kiện một phụ nữ đã không ngần ngại đập vỡ một bình dầu thơm rất đắt giá để xức cho Ngài.

1. Một hành động bị dị nghị

Câu chuyện này được hai trong số ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm tường thuật (x. Mt 26,6-13; Mc 14,3-9) với một vài chi tiết khác với tác giả Gio-an (x. Ga 12,1-8). Cụ thể là việc xác định nơi chốn diễn ra sự kiện giữa các tác giả không giống nhau; việc nêu đích xác danh tánh người phụ nữ đó là ai, chỉ có trong Tin Mừmg theo thánh Gio-an; sự sai biệt giữa mô tả về việc bà đã xức chân Ðức Giê-su hay xức đầu Ngài. Nhưng tựu trung, ta có thể tóm tắt cốt truyện như sau: Ðức Giê-su đã vào nhà một trong những bạn thân của Ngài ở Bê-tha-ni-a để dùng cơm, xảy ra là có một phụ nữ đến mang theo một bình dầu thơm đắt giá, bà đập vỡ bình dầu để xức cho Ngài, và tiếp theo là một cuộc đối thoại ngắn giữa Ngài với những người chỉ trích sự phí phạm của hành động đó.

Việc đập vỡ cả một bình dầu thơm đắt giá để xức cho một người nào đó mà người ta yêu quí, xét về mặt kinh tế xã hội, quả là quá đáng và hơn nữa còn là một phí phạm. Thế mà, Ðức Giê-su đã không ngại lên tiếng bênh vực cho hành động đó, và lý lẽ của lời bênh vực của Ngài là chỉ vì nó đã được thực hiện cho chính Ngài. Quả là khó hiểu. Chúng ta phải hiểu làm sao?

2. Một hành động yêu mến chân tình

Thật vậy, Ngài đã nói: Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! (Mc 14,7). Tuyên bố đó nhằm mạc khải một sự thật về chính Ngài và về xã hội con người. Tự nó sẽ không có khả năng biện minh cho việc bênh vực của Ngài cho hành động của người phụ nữ nọ nhưng, thật ra, dường như còn có một cái gì khác ẩn phía sau, mà sẽ giúp ta hiểu tính cách hợp luận lý của sự kiện này.

Ðiều quan trọng, đối với Ðức Giê-su, thiết tưởng, vì hành động của người phụ nữ kia là một hành vi tỏ thái độ yêu mến chân tình của bà. Chắc bà là một người giàu có, ít ra là xét theo giá trị của bình dầu thơm bà sử dụng, 300 đồng bạc. Theo lương tâm bà thì Ðức Giê-su là người đáng để cho bà xử sự như thế. Có lẽ, bà chưa thấu tỏ Ngài là ai, nhưng ít ra bà phải tự đoan chắc rằng vị này xứng đáng như một bậc Quân Vương. Mà, đối với các bậc vị vọng như thế, việc tiêu xài một bình dầu thơm, theo cùng một thể cách như vậy, không hề là điều quá đáng, cho dù là bên cạnh đó hay chung quanh đó còn không ít người nghèo khổ cần đến những sự trợ giúp thiết thực. Vì vậy, bà đã không do dự tiêu phí ngay cả đến món hàng trị giá đáng kể đó cho Ngài. Ðức Giê-su không hề chỉ trích cung cách hành động của bà, nhưng Ngài còn nói: Ðiều gì làm được thi cô đã làm (Mc 14,8). Cùng lúc đó, ta cũng không nghe thấy Ngài trách các môn đệ về lời phê bình chỉ trích của họ, vì lời phê bình đó vốn rất chí lý. Ngài chỉ đơn thuần khuyên họ nên ý thức tới chiều kích ngôn sứ của hành vi của người phụ nữ: một tuyên xưng mạnh mẽ rằng Ngài là vị Quân Vương, cho dù Ngài không đang ngự trên ngai toà của mình. Cho nên, ta cũng nghe Ngài khẳng định thật rõ ràng liền sau đó: Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ, thì nơi đó việc cô ta vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô. (Mc 14,9)

3. Người nghèo không hề bị quên lãng

- Phản ứng của công chúng là hợp lý

Thật vậy, như ta vừa gợi ý, lập luận của những người khác và của các môn đệ Ðức Giê-su, đặc biệt là Giu-đa, cũng có giá trị của nó và, một cách gián tiếp, chính Ngài cũng không hề phủ nhận điều này. Một bình dầu thơm trị giá 300 đồng bạc, một số tiền tương ứng với 300 ngày công lao động đồng áng của một người nông dân thời đó, quả là không nhỏ tí nào. Nếu đem số tiền đó bố thí cho người nghèo thì thật đáng kể, và nhờ đó sẽ có bao nhiêu người nghèo có thể nở những nụ cười vui sướng vì đã nhận được những trợ giúp từ số tiền to lớn kia. Vâng, Chúa Giê-su hiểu rõ điều này hơn ai hết, vì chính Ngài đã không ngừng dạy người ta làm như vậy. Nhưng qua lời can thiệp của Ngài, mà ta vừa nghe, Ngài muốn nhắn nhũ một điều khác rằng việc chăm lo cho những người thấp cổ bé miệng, những người cơ hàn và những người khốn khổ phải là một việc làm thường xuyên và, hơn nữa, nó phải trở thành như một nhân đức mà người ta phải luôn chăm lo thực hành trong suốt cuộc sống của mình, với tấm lòng và sự tôn trọng người nghèo. Thật vậy, việc bố thí đã được dạy ở khắp nơi và trong mọi thời, cũng như nơi mọi nền văn hóa; nhưng tính cách nhân đức của nó, như vừa được gợi ý, thường hay bị quên lãng. Chính những nhà kinh sư và các vị Pha-ri-siêu cũng thường dạy người ta thực hành điều đó. Còn điều mà Ðức Giê-su muốn nhấn đến qua hành động của người đàn bà nọ thuộc về một chiều kích khác : niềm tin vào Ðấng Mê-si-a. Và, chính Ngài là Ðấng phải đến và Ngài đã đến.

- Còn có một hợp lý ở bình diện rộng hơn

Một sự thật tối quan trọng như thế đã bị người ta quên đi, và thậm chí còn tìm cách nhân danh những thực hành đạo đức nào đó của họ để rồi phủ nhận chân tính của Ngài. Ðiều này dẫn đến một hậu quả thật tai hại, đó là người ta, đặc biệt là người Do thái đồng thời với Ðức Giê-su, sẽ cứ ở lì trong tình trạng tuân giữ lề luật một cách hình thức, đó là chưa nói đến nhiều vấn đề khác nữa (xin miễn kê ra đây). Ðiều đó sẽ làm mờ nhạt đi, nếu không muốn nói là loại trừ, mọi giáo huấn của Ngài, nhất là chiều kích yêu thương và nhân ái mà mọi hành vi nhân linh cần phải bao hàm trong chúng hầu cho nền công bằng xã hội được tái lập theo ý định của Thiên Chúa. Do đó, điều quan trọng không chỉ dừng lại ở việc đem tiền dư bạc thừa đi bố thí cho người nghèo, mà quan trọng hơn và cần thiết hơn là phải làm sao xây dựng cho được một xã hội công bằng và nhân ái trong đó không còn có người nghèo nữa, như lời của sách Ðệ nhị luật rằng: Ðể giữa anh em không có người nghèo (Ðnl 15,4), điều cần phải thực hiện lâu dài trong suốt dọc lịch sử nhân loại. Chính lời khẳng định của Ngài rằng sẽ luôn còn có người nghèo giữa anh em là một nhắc nhỡ cho công việc này.

4. Không chỉ bố thí, phải lo xây dựng nền công bằng

Vậy, không hề có mâu thuẫn trong lời tuyên bố của Ðức Giê-su liên quan đến sự kiện tiêu phí bình dầu thơm đắt giá để xức cho Ngài. Nhưng qua đó, ta lại gặp một nhắc nhỡ quan trọng về tính cách chiều sâu của lòng nhân ái phải thể hiện trong mọi hoạt động trợ giúp của mình và hơn nữa một chiều kích xã hội và đồng bộ được gợi lên hầu làm cho trong xã hội con người chúng ta không còn có người nghèo nữa hay ít ra ngày càng có ít người nghèo hơn. Một sứ điệp như thế, thiết tưởng luôn mang tính thời sự và nó nhắc nhở cho mỗi người tin vào Chúa Giê-su Ki-tô rằng họ không được phép thôi không đóng góp một tay vào trong quá trình xoá đói giảm nghèo trong mỗi môi trường mình đang sống, họ cần phải làm một cái gì đó và việc thực hành đó phải đều đặn và liên tục.

Về các sự kiện được các sách Tin Mừng ghi lại, liên quan đến chủ đề của chúng ta, còn hai sự kiện nữa mà người viết xin mời quý độc giả nhín chút thời gian nữa để theo dõi, đó là việc Giu-đa bán Thầy và các cơn cám dỗ của Chúa Giê-su mà hai bài tiếp sau sẽ đề cập đến.





An Thụ